Lời nguyện Thánh Vịnh và Cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô (bài 2)

0

TV 136 2

Các Thánh Vịnh dành một chỗ rất rộng cho thử thách và nhất là làm nổi bật lên những thời điểm mà những hành động lớn lao của Thiên Chúa, những “kì công” của Ngài đã xa rồi trong quá khứ. Như thế, lời nguyện Thánh Vịnh thật gũi với chúng ta. Nỗi đau mà lời nguyện Thánh Vịnh diễn tả, vì đặc điểm tận cùng và tận căn, gặp gỡ những thách đố lớn trong đời sống của chúng ta ở tận gốc rễ ; nỗi đau này mang những đường nét, có khả năng diễn tả nỗi đau của những người cùng khổ nhất. Thật vậy, trong tập lời nguyện Thánh Vịnh, tất cả đều là “vấn đề sống hay chết”.

Đức Giêsu-Kitô đã mặc lấy lời nguyện Thánh Vịnh, và chúng ta cũng được mời gọi làm như thế, khi chúng ta hát các Thánh Vịnh. Con đường để vâng phục ý muốn của Chúa Cha, đối với Ngài, chính là hoàn tất Kinh Thánh, và nhất là các Thánh Vịnh. Do đó, Đức Kitô đã gặp gỡ tất cả mọi người hôm qua và hôm nay, bởi lẽ các Thánh Vịnh phác họa, bằng kinh nghiệm sống đầy thách đố và đau khổ, hành trình cuộc sống của con người. Đức Giêsu hoàn tất Kinh Thánh : xác tín này được các tác giả Tin Mừng truyền đạt lại cho chúng ta như là âm vang của một kinh nghiệm vốn đã làm cho các vị kinh ngạc. Đó là kinh nghiệm về một tương hợp bất chợt, nơi đó Đấng Duy Nhất, được Thiên Chúa sai đến, mang lấy, như là khuôn mẫu, hình ảnh của con người, những con người vốn đã chịu thách đố trước Ngài.

Vì thế, lời nguyện Thánh Vịnh sẽ soi sáng mầu nhiệm Thương Khó của Đức Giê-su và ngược lại, cuộc Thương Khó của Đức Giê-su sẽ làm cho lời nguyện Thánh Vịnh rực sáng.

1. Lời nguyện Thánh Vịnh và mầu nhiệm Vượt Qua

Ánh sáng của các Thánh Vịnh hội tụ nơi cuộc Thương Khó của Đức Kitô và đây là ánh sáng mang đặc tính ngôn sứ, như các chứng nhân của Tân Ước đã nhận ra. Tuy nhiên, cần phải lưu ý ngay rằng mặc khải mà luồng sáng Thánh Vịnh mang lại không giản lược vào một mặt. Thật vậy, lời ngôn sứ của Cựu Ước được phân chia một cách quân bình giữa lời loan báo đau khổ và lời loan báo vinh quang, giữa Thương Khó và Phục Sinh : “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, theo lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, theo lời Kinh Thánh” (1Cr 15, 3-4). Sự quân bình này cũng có ở trong thư thứ nhất của thánh Phêrô :

Các ngôn sứ đã nghiên cứu tìm hiểu ơn cứu độ này, và đã tuyên sấm về ân sủng dành cho anh em. Thần Khí Đức Kitô ở nơi các ngài, đã báo trước những đau khổ dành cho Đức Kitô, và vinh quang đến sau những đau khổ đó, nên các ngài đã tìm hiểu xem Thần Khí muốn cho thấy việc đó xẩy ra vào thời nào, trong hoàn cảnh nào. (1Pr 1, 10-11)

Các ngôn sứ và lời nguyện của các Thánh Vịnh đã thực sự loan báo nước mắt và niềm vui, kết thúc đắng cay và khởi đầu mới mẻ, như hai mặt của cùng một trang giấy. Vì thế, không được ưu tiên cho chỉ một trong hai mặt. Nhưng, chúng ta không thể nói cùng một lúc hết mọi điều và phải bắt đầu bằng một trong hai mặt. Vì thế, trong phần này, chúng ta sẽ cho thấy các Thánh Vịnh là một giải thích về cuộc Thương Khó. Chúng ta thường cho rằng mình đã biết hết và hiểu hết cuộc Thương Khó của Đức Kitô. Nhưng, trong thực tế, chúng ta đã không chú ý đến một điều, mà lại là điều rất rõ trong các Tin Mừng ; các Thánh Vịnh sẽ làm nổi bật điều này lên cho chúng ta.

Với cách nhìn của nền Kitô học truyền thống, nghĩa là Kitô học “từ trên xuống”,[1] chúng ta thường khó nhận thức được một cách cụ thể tính thụ động mà từ ngữ “thương khó” (passion) muốn diễn tả. Thực vậy, trong cuộc Thương Khó, chúng ta cần nhận ra rằng Đức Giê-su bị dẫn tới thập giá bởi nhiều ý muốn của con người. Nhưng vì tầm vóc của Đức Kitô đối với chúng ta quá lớn đến độ chúng ta nhìn ngắm Ngài như tự mình quyết định đi tới cái chết một mình[2]. Nhưng, cuộc “Thương Khó” (Passion) của ngài lại chính là “hành động” (action) của nhiều người khác, xẩy ra ở ngay giữa một cơn lốc. Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu và hành động của con người kết nối với nhau trong một tương quan, ở đó mọi sự trở nên sáng tỏ, với điều kiện chúng ta phải chịu khó nhìn ngắm. Chẳng phải Đức Kitô đến để làm cho cái ẩn dấu trở nên hữu hình, và để hạ mình nhằm đặt mầu nhiệm cứu độ ở tầm mức của chúng ta hay sao ?

Ai muốn được soi sáng bởi Đức Giêsu-Kitô, cần ưu tiên nhìn vào điều hữu hình nhất và đơn giản nhất. Điều hữu hình nhất và đơn giản nhất, chính là, trong cái chết của Ngài, Đức Giêsu là nạn nhân của sự bất chính. Khi các Thánh Vịnh đặt chúng ta vào trong đám đông nổi loạn, vào giữa những đối kháng, bạo lực, tiếng la inh ỏi của thù địch, thì chính lúc đó, các Thánh Vịnh dẫn chúng ta vào nơi mà Đức Giêu đã muốn đặt mình vào đó, ngay lần đầu tiên Ngài xuất hiện trước công chúng (x. Mc 3, 6).

Người ta có thể tự hỏi trong truyền thống Kitô giáo hay trong các tôn giáo khác, có những cuốn sách cao vời hơn, thanh thản hơn sách Thánh Vịnh, trong đó người ta đọc được những lời nguyện thật cao siêu và thanh thoát ? Chắc chắn là có và không khó để tìm thấy trong các thư viện. Thậm chí, ngày nay cũng có nhiều người có tài viết những cuốn sách chứa các lời nguyện như thế. Tuy nhiên, vấn đề không phải là ở chỗ đó. Sách Thánh Vịnh hẳn không thiếu những điều cao vời và thanh thản. Nhưng, chúng ta sẽ không gặp được Đức Kitô trong các cuộc thi tài nhằm khẳng định mình và để được xác định đẳng cấp. Thực vậy, thiên tính của Ngài không chỉ cao vời hơn chúng ta, nhưng cũng hoàn toàn khác chúng ta nữa ; và sự khác biệt thần linh được mặc khải cho chúng ta ngang qua những nẻo đường thông thường nhất của chúng ta. Tương tự như các dụ ngôn của Đức Giê-su : khởi đi từ kinh nghiệm đời thường, nhưng các dụ ngôn lại nói cho chúng ta cách tuyệt vời về Nước của Thiên Chúa và về chính Thiên Chúa. Thế mà, Đức Giê-su chính là một “Dụ Ngôn sống động” nói cho chúng ta về Thiên Chúa Cha.

2. Những kẻ thù ghét

a. “Giông tố bão bùng”

Các Thánh Vịnh cầu nguyện khởi đi từ tro bụi, không chỉ là tro và bụi mà người sống đời khổ hạnh tự nguyện cúi gập mình xuống để trán của mình chạm vào, nhưng còn là tro và bụi của đường xá, của đám đông, của các cuộc nổi dậy không thể tránh được:

Con tự nhủ : “Phải chi được đôi cánh bồ câu
để bay bổng tìm nơi an nghỉ !
Tôi sẽ lánh đi mãi tận chốn xa vời, vào ở trong sa mạc.
Tôi sẽ vội tìm nơi ẩn trú, tránh khỏi cơn giông tố bão bùng.”

Đó là ước nguyện, nhưng thực tế thì lại hoàn toàn khác:

Lạy Chúa, xin Ngài gây xáo trộn
và làm cho ngôn ngữ chúng bất đồng,
vì trong thành, con chỉ thấy bạo hành và tranh tụng
rảo quanh trên tường luỹ suốt ngày đêm.
Khắp nội thành, toàn bất công bạo tàn xảo kế,
nơi phố phường, chẳng hề vắng chước độc mưu thâm.
                                                              (Tv 55, 7-12)

Trong Kinh Thánh, sự thiện thường bị đặt đối đầu với sự dữ và sự dữ thì có mặt ở khắp nơi. Bởi vì, chẳng bao giờ có người ngay mà lại không có kẻ dữ, như sách Huấn Ca nói: “Có người đạo hạnh thì cũng có kẻ tội lỗi” (Hc 33, 14)[3]. Và khi hai bên gặp nhau, bụi sẽ bay mù trời! Thánh Phaolô gợi lại thời của sách Sáng Thế và nói: “Nhưng cũng như thuở ấy, đứa con sinh ra theo luật tự nhiên đã ngược đãi đứa con sinh ra theo thần khí, thì bây giờ cũng vậy” (Gl 4, 29). Các trình thuật Kinh Thánh luôn đặt các nhân vật của mình dưới sự chi phối của qui luật này. Sách Thánh Vịnh cũng làm như thế : trong các Thánh Vịnh được gán cho Đavít trong phần đề tựa, nhiều Thánh Vịnh được nối kết bởi chính các tựa đề này với những cuộc chiến đấu của Saul, của người Philitinh, của Absalon chống lại Đavít (Tv 7; 18; 34; 52; 54; 56; 57; 59; 63; 142).

b. Chúng đông và mạnh

Từ ngữ “áp bức” ngày nay đã trở thành quá quen thuộc và nhiều khi trống rỗng, nhưng từ này trở nên hiện thực với tất cả ý nghĩa thể lý của nó khi được áp dụng cho tác giả Thánh Vịnh vốn phải đối đầu với những kẻ thù ghét vừa đông vừa mạnh:

Xin Chúa thấy cho : thù địch con đông vô kể,
chúng ghét thân này, ghét cay ghét đắng.
                                      (Tv 25, 19)

Kẻ vô cớ thù con đều mạnh thế,
người vô lý ghét con thật quá nhiều !
Con làm ơn thì chúng trả oán,
con theo đuổi điều lành, chúng lại tố cáo con.
                                              (Tv 38, 20)

Tới bao giờ các ngươi còn xúm lại
để xông vào quật ngã một người ?
Hắn đã như bức tường xiêu đổ,
như hàng rào đến lúc ngả nghiêng.
                                   (Tv 62, 4)

Đó chính là tình cảnh của người đã hơi tàn sức cạn. Nhưng, trước khi bị đánh đập, nạn nhân đã khổ sở bởi ý muốn làm điều dữ, bởi những tiếng ồn ào, la ó: “Sao chư dân lại ồn ào náo động” (Tv 2, 1 ; 46, 7). Rồi với khoảng cách gần hơn, đó là những lời nói trao đổi trong đường phố, những lời “thì thầm” (Tv 41, 7-8), những tiếng “gầm gừ” hay “tru trếu” của loài chó (Tv 59, 15-16), tiếng hò la chiến thắng (Tv 70, 4):

Chúng chế giễu, buông lời thâm độc,
lại kiêu căng bàn chuyện ức hiếp người ;
miệng chẳng từ xúc phạm trời cao,
lưỡi tự do tung hoành cõi đất.
                                (73, 8-9)

Điều thật hiển nhiên là những kẻ dữ thì mạnh hơn người lành:

Cứu tôi thoát đối phương tàn bạo
và kẻ thù mạnh thế hơn tôi.
                    (Tv 18, 18)

Xin Ngài để ý nghe tiếng con kêu, vì con thật cùng khốn.
Xin cứu con khỏi những người bách hại,
bởi chúng mạnh hơn con.
                       (TV 142, 7)

Sức mạnh này là thể lý; nhưng nó còn là tâm lý nữa và nó có tài làm cho người ta sợ. Sức mạnh này còn là khả năng tạo ra các lý do để hà hiếp và lên kế hoạch bách hại. Đó là những hành vi xấu được chuẩn bị trong bí mật (Tv 36, 5; 52, 4), những mưu phản (Tv 2, 2), chỗ mai phục của kẻ săn lùng (Tv 10, 8-9), những mưu toan (Tv 31, 14.21), những kế hoạch và mưu đồ (Tv 33, 10). Và sự vận hành hiệu quả của cả bộ máy như thế làm lung lạc tinh thần người lành trước khi ra tay lấy mạng người này. Và người có lòng tin cũng phải lung lạc, khi chứng kiến diễn tiến không thể cưỡng lại được của cơ cấu sự dữ:

Ác nhân như vậy đó,
chúng vẫn cứ an nhàn, thu tích thêm của cải.
Lạy Chúa, như thế là con đã uổng công
giữ lòng trong trắng, giữ tay thanh sạch !
                                        (Tv 73, 12-13)

Người người đã xa rời chính lộ,
chỉ biết theo nhau làm chuyện suy đồi
chẳng có một ai làm điều thiện,
dẫu một người cũng không.
                          (Tv 53, 4)

Điều kỳ dị nhất, đó là cả cơ cấu hùng mạnh của sự dữ coi việc người lành biến đi là điều quan trọng ; và cái chết làm tròn đầy ý muốn của kẻ dữ[4] :

Con đã gây thắc mắc cho bao người.
                                       (Tv 71, 7)

Xương con đếm được vắn dài ;
chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem.
                                   (Tv 22, 18)

Thế mà khi tôi vừa vấp ngã,
chúng vui mừng tụ hội với nhau.
Người lạ mặt cũng xúm vào đập đánh
và cấu xé không ngừng.
                                (Tv 35, 15-16)

Khoác vào mình tấm áo vải thô,
thì lại nên trò cười cho thiên hạ.
                              (Tv 69, 12)

Vì thù địch nặng lời chống đối,
quân rình hại mạng con đã nhất trí bày mưu,
bảo nhau rằng : “Thiên Chúa bỏ hắn rồi, cứ truy nã,
bắt hắn đi, chẳng có ai cứu hắn đâu mà !”
                                      (Tv 71, 10-11)

Ngoài ra, chúng ta còn có thể tự mình tìm ra nhiều trích dẫn khác nữa trong sách Thánh Vịnh. Tuy nhiên, các trích dẫn nêu ra ở đây đã khá nhiều, đủ để chúng ta nhận ra rằng đây là tình cảnh phổ biến, chứ không phải là những trường hợp thật cá biệt, lẻ loi[5].

3. Đức Kitô và những kẻ thù ghét

Sách Thánh Vịnh vẽ ra một bức phác họa về thảm cảnh mà người công chính đã trải qua, về thử thách và ơn cứu độ của người này. Cái nhìn này của các Thánh Vịnh rất thường được coi như một dự báo đột ngột, được ban cho một tác giả Thánh Vịnh riêng biệt, về những gì Đức Giêsu-Kitô sẽ phải trải qua. Tuy nhiên, với những gì vừa đuợc trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận ra rằng: thảm cảnh này đã không chỉ là một mặc khải dành cho chỉ một người về tương lai của một người khác, nhưng nó đã được sống trong hiện tại của nhiều người và chính ngay trong thực tại đã được sống này mà Đức Kitô đã đi vào, để dẫn nó đi đến cùng và như thế, mặc khải tất cả ý nghĩa của nó. Cuộc Thương khó đặt Đức Kitô trong cuộc chiến đấu quyết định giữa sự thiện và sự dữ.

Sự dữ được các Thánh Vịnh gọi là “gian dối và bạo lực”:
Phường khát máu và chuyên lường gạt.
                                        (Tv 55, 24)

Miệng độc dữ điêu ngoa, những buông lời nguyền rủa,
lưỡi nói toàn chuyện gian ác bất công.
                                      (Tv 10, 7)

Thánh Gioan trung thành cách lạ lùng với cách diễn tả như thế này của các Thánh Vịnh khi mô tả Satan như là kẻ sát nhân ngay từ khởi nguyên và là cha của sự gian dối (Ga 8, 44). Có thể nói cách chung rằng, các tác giả Tin Mừng lấy ở các Thánh Vịnh những từ ngữ mình cần để mô tả kế hoạch của sự dữ cố làm cho người ngay lành phải chết.

Những rào bẫy và âm mưu mà tác giả Thánh Vịnh bị rơi vào như con mồi, đã làm cho tác giả trở thành khuôn mặt của Đức Giêsu bị vây hãm bởi mưu mô của những kẻ giả hình:

Lạy Chúa, suốt ngày chúng phá rối việc con làm,
và chỉ nghĩ đến chuyện hại con.
Chúng tụ tập, rình mò, theo dõi con từng bước
để tìm hại mạng con.
              (Tv 56, 6-7)

Những câu này của Thánh Vịnh tóm lược được nhiều câu khác; và thánh Luca đã lấy những lời này làm của mình để mô tả điều đe dọa Đức Giêsu: “Họ rình rập và sai một số người giả bộ công chính đến dò la, mong bắt quả tang Đức Giêsu lỡ lời” (Lc 20, 20; x. 11, 54). Thánh Matthêu (x. 22, 15) và Thánh Gioan (x. 11, 56-57) đã sử dụng cùng một khung cảnh. Và sự công chính của Đức Giêsu buộc sự dữ phải lộ diện: “Chúng ghét con vô cớ” (Ga 15, 25 trích Tv 35, 19; 69, 5).

*  *  *

Lòng ghen ghét vô cớ bộc lộ bản chất của tội và buộc nó phải ra khỏi chỗ trú ẩn, khỏi chỗ ẩn náu vững chắc mà từ đó nó hủy diệt con người (x. Tv 10). Con người tội lỗi, bị đặt trước mặt Đấng Công Chính hoàn hảo, sẽ bị thúc đẩy bởi lòng ghen ghét để thực hiện những hành vi mà chính người này tuyên bố bằng lời là đáng lên án. Như thế, vụ án sẽ diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật, chung quanh thân thể của Đức Giêsu bị lên án chết. Các Thánh Vịnh, qua việc dành chỗ cho những con người đau khổ, giúp chúng ta hiểu thảm cảnh này.

Tuần Thánh 2015
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

—————–

[1] Kitô học “từ trên xuống” khởi đi từ tín điều “Ngôi Lời nhập thể”, vốn là điểm tới của cả một quá trình suy tư về đức tin trong 3 thế kỉ đầu tiên của Giáo Hội. Chúng ta thường được dạy về nội dung các tín điều, chứ không về quá trình, bối cảnh và lí do tại sao Giáo Hội lại tuyên tín như thế. Trong khi, hành trình đức tin của các chứng nhân đầu tiên và của Truyền Thống mới là khuôn mẫu cho niềm tin của các tín hữu mọi thời.

[2] Đối với chúng ta, Đức Kitô trở nên như các thánh mà các nhà viết tiểu sử chỉ biết ca tụng những nhân đức mà không chịu mô tả bối cảnh của những nhân đức này.

[3] Chẳng hạn tình cảnh của bà Susana đuợc kể lại trong sách Đaniel (x. Đn 13).

[4] Khởi đi các câu Thánh Vịnh được trích dẫn ở đây, chúng ta nên mở sách Thánh Vịnh ra đọc, và không chỉ đọc các câu trích, nhưng đọc cả Thánh Vịnh hay ít nhất những câu chung quanh..

[5] Có thể đọc thêm Kn 2, 12-20.

Comments are closed.