Đôi mắt

0

doi mat 3

Về mặt cấu tạo, thì con mắt ai cũng giống ai. Cấu tạo thì giống nhau, nếu có khác thì người mắt một mí, người hai mí, người có mắt to, người có mắt nhỏ.

Tuy nhiên quan trọng hơn là, về mặt cấu tạo, con mắt thì giống nhau nhưng cái nhìn sự vật, thường không phải lúc nào cũng giống nhau. Đứng trước một cảnh đẹp hữu tình, người này khen, kẻ khác chê. Trước một hoàn cảnh éo leo cuộc đời, có thể bên cạnh cái nhìn thiện cảm, cũng có cái nhìn thù địch. Với cùng một sự kiện, có cái nhìn trong sáng, nhưng cũng có cái nhìn đen tối. Đối diện với một lỗi lầm, bên cạnh cái nhìn nhân ái, bao dung nhưng vẫn có cả cái nhìn chứa chan hận thù,…

Cho dù sao đi nữa, chức năng căn bản của con mắt là để nhìn. Cho nên suốt đời chức năng của mắt vẫn là chỉ để nhìn, nó không bao giờ thay đổi theo thời gian. Thật vậy, cùng một con mắt, nhưng cái nhìn ở mỗi thời điểm, trước mỗi đối tượng, trong các hoàn cảnh thì lại khác nhau.

Có những đôi mắt rất đẹp, nhưng lại có cái nhìn không đẹp, rất xấu, rất tiêu cực. Có những đôi mắt trông hiền như “mắt nai” nhưng lại có cái nhìn người khác bằng con mắt “dừa hâu.” Ngược lại, có những cặp mắt “dừa hâu” nhưng lại có cái nhìn hiền dịu như mắt “bồ câu”.

Nếu có những đôi mắt rất vui nhưng lại ẩn chứa một nỗi buồn mông lung. Có những đôi mắt rất buồn, nhưng lại có cái nhìn lạc quan. Có những người có đôi mắt u sầu, nhưng lại chứa cả một thế giới lạc quan và tích cực. Có những người đầy đủ hai con mắt, nhưng chỉ nhìn đời bằng một thậm chí nửa con mắt. Có những người mắt mở tháo láo mà vẫn “mù” vì sợ trách nhiệm, vì nể nang. 

“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”. Cái nhìn thường luôn luôn gắn với cái tâm của bản thân người nhìn. Do đó, tâm sáng thì cái nhìn cũng sáng, tâm tối, đương nhiên cái nhìn không thể sáng.

Theo quan điểm Kitô giáo, Thiên Chúa ban cho con người lý trí và con tim. Lý trí giúp con người biết phân định đúng sai, biết suy tính thiệt hơn, biết sáng tạo. Lý trí giúp con người thấu hiểu sự việc, phân tích vấn đề cách rõ ràng và từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp cho vấn đề ấy. Còn trái tim thì gợi lên trong tâm trí ta một cái gì đó mềm mỏng hơn, nhẹ nhàng hơn, dịu dàng hơn. 

Trong cuộc sống có những lúc ta không thể nhìn thấy bằng con mắt lý trí, nhưng cần cảm nghiệm bằng con mắt đức tin, con mắt của trái tim.

Ai yêu mà yêu bằng lý trí thì chẳng thật sự yêu. Khi yêu ai là cứ yêu người đó, không cần lý trí phân tích tại sao, thế nào, được gì mất gì. Lý trí không thể cho ta câu trả lời cho câu hỏi tại sao ta yêu người này mà không là người khác, tại sao ta nhớ nhung và cảm thấy hạnh phúc bên người kia mà không phải là người nọ. Khi con tim đã bắt phải yêu rồi, thì khó có thể dùng lý trí để cân đo đong đếm. “Con tim có lý lẽ của nó mà lý trí không thể hiểu được”. Tình yêu không nằm trong phạm trù của lý trí, nhưng ở con tim. Do đó, đối với người yêu nhau, khái niệm về cái đẹp được nhìn dưới lăng kính của con tim hơn là lý trí. Con tim mách bảo người yêu mình là đẹp nhất, cho dù thực tế không đẹp như vậy. 

Đời sống dâng hiến cũng rất cần đến cái nhìn của của con mắt lý trí và cái nhìn của con mắt con tim. Với cái nhìn của con tim, người tu sĩ sẽ cảm nghiệm rõ hơn ơn gọi huyền nhiềm của mình. Một ơn gọi tình yêu nhưng không của Thiên Chúa và một lời đáp trả tình yêu với tình yêu. Thay vì dùng con mắt của lý trí để tìm hiểu tại sao Chúa lại gọi tôi, thì nên nhìn với con mắt của đức tin, của com tim để cảm nghiệm hơn tình yêu Thiên Chúa đã chọn mình theo cách đặc biệt.

Trong đời sống cộng đoàn, nếu người tu sĩ quá nhấn mạnh đến con mắt của lý trí, đời sống cộng đoàn sẽ rất ngột ngạt và nặng nề. Ngược lại, nếu người tu sĩ quá nhấn mạnh đến con mắt của trái tim, e rằng đời sống cộng đoàn sẽ lộn xộn, không chạy theo trật tự, không mang lại thiện ích cho cộng đoàn.

Ngoài ra, một bề trên nếu chỉ dùng con mắt lý trí thì không thể cảm nhận được nhu cầu chia sẻ, đối thoại, tư vấn nơi các bề dưới. Vì thế, người nào lý trí quá thì cũng thường rất nguyên tắc và rập khuôn. Sống như thế, tuy rằng chẳng có gì sai, nhưng sẽ làm cho con người mình trở nên lạnh lùng và cuộc sống của mình trở nên như một tảng băng. 

Tu sĩ là những con người, không phải là những cỗ đá chơ vơ lạnh lùng, không cảm giác. Tu sĩ cũng là một con người như bao người khác, nhờ có con tim, đôi lần bất chợt họ cũng biết biết nhớ, biết bồi hồi, biết giận dỗi, và biết yêu. Nhờ có trái tim, đôi lần người tu sĩ mới có những tiếng cười giòn dã khiến họ cảm thấy hạnh phúc, họ mới có những giọt nước mắt làm ướt đẫm bờ mi trong hành trình dâng hiến. 

Người tu sĩ, với con mắt của trái tim, sẽ nhìn việc tuân giữ kỷ luật là vì tình yêu. Nó thúc đẩy người người tu sĩ tìm đến lối hành xử mà có khi lý trí không bằng lòng. Trong một số trường hợp, nó có thể phá vỡ nguyên tắc, tiêu chuẩn kỷ luật của cộng đoàn. Với con mắt của trái tim, tiêu chuẩn đánh giá một vấn đề của nó cũng khác, vì nó vượt ra khỏi những tính toán về số lượng hay chỉ tiêu. 

Tóm lại, trong đời sống dâng hiến người tu sĩ luôn cần đến cả hai: con mắt của lý trí và con mắt của con tim. Chính nó sẽ giúp người tu sĩ sống quân bình trong tương quan với người khác, cũng như giúp mình chế ngự cảm xúc sao cho toàn vẹn. Tu sĩ nào lý trí quá thì trở nên khô cứng. Tu sĩ nào tình cảm quá thì cũng không giải quyết được gì. Lý trí thường được ví như ánh mặt trời oai phong giúp làm sáng tỏ và đốt nóng mọi sự. Còn con tim là ánh trăng ngọt lịm giúp xoa dịu cái nắng oi bức của một ngày, mang đến cho người ta một cảm giác thanh bình và thoải mái. 

Trong cuộc sống muôn mầu của đoạn đường tận hiến đi theo Chúa, sẽ có lúc người tu sĩ cần mặt trời để soi sáng và làm hâm nóng, nhưng cũng có khi người tu sĩ lại cần mặt trăng để giảm bớt cái nòng ngột ngạt của luật lệ trong cộng đoàn. Nhưng cũng có những khi người tu sĩ cần cả mặt trăng lẫn mặt trời. Điều đó giúp cho cuộc sống dâng hiến được hài hòa hơn, vui vẻ hơn, ý nghĩa hơn, dẫu cho có gặp khó khăn và thử thách. 

Trong đời sống dâng hiến, không thể lúc nào người tu sĩ cũng lý luận, cũng nguyên tắc vì biết đâu nó sẽ dập tắt tình anh chị em trong cộng đoàn. Đời sống cộng đoàn sẽ trở thành gánh nặng, người này là gánh nặng cho người khác. Người này là nô lệ cho người khác. Nhưng người tu sĩ cũng không thể cứ luôn ủy mị, đến độ bỏ qua lề luật, quy định. 

Một bề trên, một chị giáo, một cha giám tập, sẽ là khôn ngoan hơn khi trong mọi hành động của lý trí, đưa vào một chút tình, và trong những cảm xúc yêu thương, đặt để vào một chút lý. Điều này ta phải học một cách từ từ qua những kinh nghiệm trong cuộc sống, và có khi là qua những lần sai phạm. Nhưng ít ra, ý thức về điều này sẽ giúp chúng ta cẩn trọng hơn trong những chọn lựa của mình. “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Có như vậy, “nồi cháo lòng” của cuộc đời sẽ ngọt hơn, ngon hơn và hấp dẫn hơn. Mong thay!

Tu sĩ Bertrand Nguyễn Thanh Hoài

Comments are closed.