Sống tinh thần nghèo khó của Đức Giêsu

0

  • Lời mở:

Thánh Phao-lô đã khẳng định với tín hữu Corintô: “Đức Giê-su vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (x.2 Cor 8,9b).

Thánh vịnh 104 đã cho ta thấy vị trí siêu việt của Thiên Chúa, Đấng là Vua trên các vua, Chúa trên các Chúa: “Áo Ngài mặc: toàn oai phong lẫm liệt, cẩm bào Ngài khoác: muôn vạn ánh hào quang”. Và sự oai phong của Ngài được mô tả: “Tầng trời thẳm, Chúa căng như màn trướng, điện cao vời dựng trên khối nước cõi thanh không. Chúa ngự giá xe mây, Ngài lướt bay cánh gió. Sứ giả Ngài: làn gió bốn phương; nô bộc Chúa: lửa hồng muôn ngọn” (c.1-4).

Quả thế, Ngài rất “giàu sang phú quý”, chứa chan quyền uy, thế nhưng tại sao Ngài “tự ý trở nên nghèo khó vì chúng ta”? Và lấy “cái nghèo của mình mà làm cho chúng ta trở nên giàu có”?

Nhìn về nguồn cội của con người, thì chúng ta là bụi tro, một thứ vật thể hèn mọn của Thiên Chúa. Thân phận chúng ta là “không”, là trần trụi, là “không có gì”. Tất cả những gì nơi ta có đó để làm ta hiện hữu, là do Đấng Sáng Tạo ban cho.

Tất cả những lý do trên khởi từ tình yêu cao cả, thẳm sâu của Thiên Chúa dành cho con người, mà, Thiên Chúa đã luôn đi bước trước, để “vì chúng ta”. Người muốn dẫn dắt chúng ta thẩm thấu về một chân lý thâm sâu – cho chúng ta biết rõ và cảm nhận sâu xa về căn tính của mình – là “không có gì”.

Và tôi muốn chọn lối sống: “tinh thần nghèo khó” triệt này để theo ý định của Người, để kiếm tìm “điều Người muốn cho tôi”, một môn đệ.

1. TINH THẦN NGHÈO KHÓ CỦA ĐỨC GIÊ-SU

Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo, Người biết rõ điều phải làm cho chúng ta, mục tiêu Người định sẵn – là hướng chúng ta tới sự trọn hảo tối hậu, tới hạnh phúc mà chính Người đã định. Cho nên, trong Tám Mối Phúc, Người đã đặt Mối Phúc thứ nhất là “tinh thần Nghèo Khó” – “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Đức Chúa Trời là của họ” (Mt 5, 1).

Theo Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, thuật ngữ “tinh thần” để chỉ con người ngay từ khi tạo dựng, đã được Thiên Chúa “quy hướng về cùng đích siêu nhiên” (số 367).

Theo Kinh Thánh thì thuật ngữ “Tinh thần” là hơi thở của sự sống mà Thiên Chúa đã trao ban cho Ađam, là chiều kích sâu kín nhất của con người, là chiều kích thiêng liêng, chiều kích làm cho chúng ta trở nên người, nó là hạt nhân sâu thẳm của căn tính chúng ta, nó đưa chúng ta nhận ra căn tính của mình – là “hư không”. Chúa Giêsu công bố các mối phúc cho ta, để ta thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúa muốn chúng ta luôn quy hướng về những giá trị cao cả Nước Trời (x. Đức Th. Cha Phanxicô, Tám Mối Phúc). “Tinh thần khó nghèo” của Chúa Giêsu đã thể hiện sâu sắc qua đoạn Kinh Thánh mà chính Thánh Phao-lô khẳng định lối sống của Thầy mình: “Đức Giê-su vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 1-8).

Chúa Giêsu đã muốn sống sự nghèo khó triệt để, Người thể hiện sự “hủy mình ra không” và đã chọn lựa như thế nhằm đưa chúng ta đi vào cùng đích siêu nhiên, chiều kích thiêng liêng, chiều kích sâu kín, là chiều kích làm cho chúng ta trở nên người, là hạt nhân sâu thẳm của căn tính chúng ta – một thụ tạo giới hạn, mỏng manh, bấp bênh, phải cậy dựa vào các nhu cầu, và cuối cùng là cái chết, điểm chót không thể tránh thoát được. Giá trị tinh thần ấy giúp chúng ta sống thực căn tính của mình – “không có gì”, để hoàn toàn phải cậy dựa vào Thiên Chúa, vì “không có Đấng Sáng Tạo” thì thân phận thụ tạo sẽ biến tan” (GLHTCG 308). Qua chiều kích cơ bản này sẽ dẫn chúng ta tới sự sống vững bền trong sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Giáo lý Hội Thánh Công Giáo khẳng định: Suốt cuộc đời Đức Ki-tô nên mẫu mực cho chúng ta, là “con người hoàn hảo” (c. 520). “Người vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” – Người tự hạ và nêu gương tự hủy mình cho chúng ta noi theo (x. Ga 13,15); Người sống nghèo để kêu mời chúng ta tự do đón nhận thiếu thốn và bách hại về mọi phương diện của kẻ yếu (x. Mt 5, 11-12), Người muốn chúng ta khám phá, nhìn nhận và sống căn tính của thân phận “không có gì” của mình, để chỉ sống trong sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa là cùng đích siêu nhiên ta phải hướng tới.

Người đã mời gọi các môn đệ “Anh em hãy đi rao giảng Nước Trời. Anh em đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy (Mt 10,7-10) mà đến với anh chị em bằng tình thương của Thiên Chúa với thân phận mọn hèn của người môn đệ. Cuộc sống người môn đệ của Người là triệt để cậy dựa vào Thiên Chúa bằng sự trống rỗng, hư không của mình.

Tinh thần khó nghèo của Người càng sáng lên căn cội của con người, khi được mô phỏng: “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”. Người tự ý trở nên nghèo, một thứ nghèo tận cùng để chúng ta trở nên giàu có. Sự giàu có này chính là trở về với chân lý thân phận chúng ta, là “không có gì”.

Tinh thần nghèo khó của Đức Giê-su lên tới tột đỉnh của sự “hủy mình” của chân lý tạo dựng – “Các loài thụ tạo không có Đấng Tạo Hoá thì sẽ tan biến” – thế mà, “một Thiên Chúa, Đấng tạo Hoá, mà Người đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết khổ nhục trên thập tự” điều này càng dẫn đưa chúng ta vào chiều kích sâu thẳm của căn cội chúng ta, là “không có gì”.

2. TINH THẦN NGHÈO KHÓ CỦA CÁC THÁNH

a. Thánh Martino Porét sinh tại Lima, nước Peru. Cha Ngài là một hiệp sĩ Tây Ban Nha. Mẹ là một phụ nữ nô lệ da đen. Giữa hoàn cảnh đen tối của gia đình và xã hội, Martino đã như đoá sen khiêm tốn tuyệt vời, hằng an vui trong địa vị thấp hèn của mình. Khi người cha ruồng rẫy, Ngài đón nhận như con đường Chúa muốn dành riêng cho Ngài. Bị khinh miệt, Martino đã lấy niềm vui trong Chúa và tình thương như Chúa để làm đường đi cho suốt cuộc đời khi đến với mọi người. Ngài say mê con đường “huỷ mình ra không” mà Thầy Chí Thánh Giê-su yêu quý, để sống chân lý “không có gì” trong thân phận con người. Khi vào Dòng, Martin chỉ xin làm người lao công trong nhà Dòng. Cha Juan de Lorenzana, tu viện trưởng tại Lima đã biết nhân đức của Martin nên đã đồng ý để cậu được tự do chọn lựa. Từ ngày đó, cậu tận tâm làm những công tác hèn hạ, vất vả nhất trong nhà Dòng. Martino đã làm những công việc tầm thường, hèn hạ, không ai biết đến. Ngài đã tâm niệm noi gương Chúa, Đấng đã đến để phục vụ và hầu hạ mọi người. Như Chúa, Ngài đã luôn khiêm tốn và tận tình lo mọi công việc trong nhà.

Trong khi thi hành công việc vất vả, thầy Martin vẫn giữ nét mặt vui tươi, tâm luôn bình. Bất chấp thời gian và hoàn cảnh, thầy cứ luôn luôn là một tu sĩ hiền hậu, nhã nhặn và thi đua chạy trên con đường thánh thiện.

Khi là một y tá, Thầy tận tình chăm sóc và kiên nhẫn với hết mọi người. Với những bệnh nhân đau đớn, chán nản vì bệnh tật, thầy luôn yêu thương, an ủi, vỗ về, khuyên giải.

Quả thật, Thánh Martino đã sống đúng căn tính con người – khi xác tín thân phận thật của mình trước mặt Thiên Chúa và mọi người, là “không có gì”.

b. Thánh Thomas Aquinas (Toma Aquino, 1225–1274) là phát ngôn viên xuất sắc của truyền thống Công giáo về Tín lý và Mặc khải. Ngài là 1 trong 4 thầy dạy vĩ đại của Giáo hội Công giáo thời Trung cổ (3 vị kia là Alexandre Hales, Albert Cả và Bonaventura), Ngài được tôn vinh là Tiến sĩ Giáo hội và Tiến sĩ Thiên thần. Thomas thông thái xuất chúng nhưng rất khiêm nhường. Khi ở Ý, ĐGH Urban IV giao cho ngài nhiều trọng trách – như giảng thuyết cho người Do Thái, và muốn trao mũ gậy giám mục cho ngài nhưng ngài từ chối để được dạy học và lo việc cho nhà dòng.

Công đóng góp to lớn của ngài cho Giáo hội Công giáo là những sách ngài viết, đặc biệt là bộ Tổng luận Thần học (Summa Theologiae) được viết từ năm 1266–1273. Nhưng tác phẩm cuối cùng của ngài, bộ Tổng luận Thần học, giải quyết toàn bộ Thần học Công giáo, lại chưa hoàn tất. Ngài ngừng viết tác phẩm này sau khi cử hành Thánh lễ ngày 6/12/1273. Khi được hỏi tại sao ngài ngừng viết, ngài khiêm nhường cho biết: “Tôi không thể tiếp tục… Những gì tôi đã viết có vẻ như rơm rác so với những gì tôi nhìn thấy và những gì tôi được mặc khải”.

Có một thời gian, sách của Thánh Thomas đã bị Giáo hội cấm vì cho là lạc giáo, nhưng sau đó lại công nhận và tuyên bố rằng ai không đọc sách của ngài sẽ bị lầm lạc. Bất kỳ ai tu học làm linh mục đều phải học Triết học và Thần học của ngài.

Chung quanh những biến cố ấy, đều cho chúng ta nhận rằng, Thánh Thomas rất thánh thiện và khiêm nhường, cụ thể, đã sẵn sàng “huỷ mình” ra không như Thầy Chí thánh, chân nhận “không có gì” trong thân phận thụ tạo, nên luôn đặt mọi tác phẩm của mình dưới quyền phán quyết của Giáo Hội (x. Thomas Aq. Trầm Thiên Thu).

c. Thánh Đaminh, thuộc gia đình quý tộc, giàu sang, một nhà trí thức, một học giả nổi tiếng thế kỷ XIII và là một đấng sáng lập Dòng giảng thuyết, mà thời đó chỉ có hàng Giám mục mới được phép rao giảng Lời Chúa. Thế mà, theo Cha Allan White- nguyên Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Anh, là phó hiệu trưởng trường thánh Maria, El Centro, California – Cha Đa Minh lại muốn ẩn mình phía sau hoạt động của dòng. Ngài khởi đầu cuộc đời như một kinh sĩ tại Castile, nơi mà sau này là tiền tuyến của Tây Âu. Và cuộc đời ngài đã kết thúc trong vai trò là đấng sáng lập của một dòng du thuyết, gồm các tu sĩ hành khất và các nữ đan sĩ, với sứ mạng loan báo Tin Mừng và hòa giải tội nhân thông qua bí tích Giao hòa và việc hướng dẫn tâm linh.

Chân phước Giorđanô cho biết: Thiên Chúa đã ban cho thánh Đa Minh một ân sủng đặc biệt là cầu nguyện cho các tội nhân, người nghèo và người bị đàn áp. Ngài đã mang những nỗi khổ đau của họ vào nơi “thánh thiêng sâu thẳm nhất” (innermost sanctuary – sacrarium intimum) của cõi lòng. Ngài đã đích thực sống cái nghèo của Đức Giê-su, nên Ngài xót xa, đầy lòng trắc ẩn trước sự đói khát, túng quẫn, thiếu thốn của những người nghèo khi Ngài đối diện, ngài đã sẵn lòng bán những tài liệu vô cùng quý do Ngài biên soạn để lấy tiền lo cho người nghèo.

Ngài đã muốn giữ lại đúng thân phận nghèo của con người, sống đúng cái căn tính “không có gì” để anh chị em được bù đắp những thiếu thốn nhu cầu cuộc sống.

d. Mẹ Theresa Calcutta cũng đã thâm tín về căn tính của thân phận con người là “không có gì”, nên Mẹ đã hạnh phúc, an vui, hoan hỉ để dấn thân sống bên cạnh anh chị em mà bản thân trơ trụi “không có gì”. Mẹ đồng cảm, chia sẻ và hết lòng tận tụy chăm sóc đến say mê những con người rỗng trống, trơ trụi nhất, những con người bị coi như đồ uế tạp, phế bỏ của xã hội, nhưng Mẹ lại rất trân quý vì nhìn ra một kho tàng vô giá là Thiên Chúa nơi từng con người này. Và cuộc đời Mẹ đã hòa trộn trong “cái không có gì” của anh chị em khốn cùng như một ơn gọi, mà Mẹ gọi là sự “làm giảm cơn khát của Chúa Giê-su trên thập giá”, bằng “việc tận lực hoạt động cho phần rỗi và sự thánh hóa của thành phần nghèo nhất trong các người nghèo”.

Vâng, đang là một Hiệu trưởng của trường Trung học, nhưng sự lựa chọn này của Mẹ thật tuyệt vời khi Mẹ chia sẻ cảm nghiệm đầu tiên về những người nghèo, mà nó sẽ làm nên ơn gọi mới của Mẹ: “Vào một buổi tối kia, chúng tôi ra đường và thấy được bốn người. Một người trong họ hết sức thê thảm. Tôi nói với các chị em rằng:“Các con hãy chăm sóc 3 người kia; còn mẹ lo cho người tệ nhất ấy”. Thế là tôi đã làm tất cả những gì tình yêu của tôi có thể làm cho người phụ nữ này. Tôi đặt người phụ nữ ấy lên giường và chị đã nở ra một nụ cười tuyệt vời. Chị đã nắm lấy tay tôi nói lời duy nhất “cám ơn Mẹ”, rồi chị qua đời. Tôi không thể nào không xét mình trước chị phụ nữ ấy. Tôi ngẫm nghĩ: “Tôi sẽ nói gì nếu ở vào trường hợp của chị?”. Câu trả lời của tôi rất dễ thôi. Tôi sẽ nói rằng: “Tôi đói khát, tôi chết mất, tôi lạnh lẽo, tôi đau đớn” hay một câu nào đó. Thế nhưng, chị đã cho tôi còn hơn thế nữa. Chị đã cho tôi tấm lòng ưu ái tri ân của chị. Và chị đã chết với một nụ cười trên khuôn mặt”. Và Mẹ can đảm trong hoan lạc đi hết hành trình cuộc đời cho lối sống “không có gì” để yêu thương và yêu đến tận cùng đối với những anh chị em quả là đi đến tận cùng của sự trần trụi.

e. ĐTC Phanxicô, Người có tinh thần nghèo khó, đã nhìn nhận giới hạn của mình và cậy dựa vào Chúa.

Đức Thánh Cha giải thích người có tinh thần nghèo khó ý thức về sự nghèo khó của mình và dựa vào Thiên Chúa. Họ ý thức về sự mỏng dòn yếu đuối của mình, chấp nhận những sai lỗi và xin tha thứ. Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu chấp nhận sự nghèo khó trong bản thể của mình để có sự tự do đích thực và dâng hiến cuộc sống để phục vụ tha nhân với tình yêu thương.

III. TÔI SỐNG TINH THẦN NGHÈO KHÓ CỦA ĐỨC GIÊSU

Nơi con người, sau khi nguyên tổ phản bội Thiên Chúa, đến độ bất chấp Thiên Chúa, chống nghịch lại Thiên Chúa, coi thường Thiên Chúa, con người bắt đầu phải làm nô lệ ác quỷ với ba vật dục, là xác thịt, tiền bạc và cái tôi. Ba vật dục này khiến linh hồn không thể điều khiển nổi thân xác. Để tham dự vào cuộc sống của Thiên Chúa, là căn nguyên của mình, Giáo lý Hội Thánh Công Giáo đòi con người phải trải qua “Một cuộc chiến cam go”, vì lý trí đã ra lu mờ, ý chí yếu đuối và linh hồn không thể làm chủ trên thân xác được (x. GLHTCG 398, 400, 409). Do đó, lời nhắc nhớ thâm sâu của Đức Giê-su cảnh giác người môn đệ: Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,33). Việc từ bỏ mọi sự mà Đức Giêsu yêu cầu, đó chính là điều kiện thiết yếu để trở về sống đúng căn cội của mình là “không có gì”, để chỉ còn sống phó thác và tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa quyền năng. Khi đó, người môn đệ dám đảm nhận điều kiện tự giải thoát khỏi ngẫu thần, là những sự quyến rũ của trần thế – là những thứ thuộc cuộc sống ảo tưởng, giả tạo, không thuộc về mình, vì “Bao lâu con người ích kỷ chỉ nghĩ đến mình thôi, thì người ấy trở nên hao mòn, không còn sinh được lợi ích nữa (Docat số 19).

Đức Thánh Cha Phanxico đã chia sẻ một thực tế hiển nhiên nơi con người vị kỷ của chúng ta: “Chính lúc con người cảm thấy bị cô lập nơi tập thể, bị hiểu lầm hay bị sỉ nhục trong cuộc tranh luận thì sự bực tức xuất hiện và khiến cho bất kỳ mối quan hệ nào, ngay cả quan hệ quý giá nhất là gia đình cũng trở nên chua xót”.

Cho nên, khi sử dụng lý trí để tìm kiếm chân lý, sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn đến Thiên Chúa. Thật tuyệt vời và sâu sắc khi Đức Giê-su nói một cách thân tình với chàng thanh niên khao khát nên tốt lành: “Hãy bán tất cả những gì anh có mà phân phát cho người nghèo, và anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Lc 18,22tt). Kho tàng trên trời chính là khám phá ra sự thật về mình – “không có gì” để rồi ta có được Nước Trời và nên môn đệ của Chúa, đó là sự giàu có mà Đức Giê-su đã đánh đổi để dẫn ta bước vào vùng chân lý cao sâu ấy.

Quả vậy, trong ta thường hiện rõ hai cuộc đời – một cuộc đời thật, một cuộc đời tưởng tượng, giả tạo. Tại sao ta cảm thấy tự hào khi gia đình mình khá giả, giàu có; tại sao ta cảm thấy vui khi được tôn trọng, quý mến, vị trí được tôn vinh, ghi nhớ. Thế nhưng, ta lại thực sự ray rứt khi bị tổn thương; khó chịu, bất mãn và khổ sầu khi bị lãng quên? Lý do nào khiến ta thích lắng nghe lời khen ngợi về mình, cụ thể, luôn hãnh diện khi được đánh giá, là có con mắt tinh anh để nhìn rõ sự việc; lý trí vô vị lợi khi phân định sự việc và thẳng thắn quyết định trong sự khôn ngoan, mềm dẻo; sắc mặt luôn ôn hòa, lối sống luôn hoà nhã, giữ được sự quân bình để cư xử tế nhị, cung kính với người trên; thân ái, hòa đồng với người dưới, lời nói luôn giữ bề trung thực, hành động luôn cẩn trọng? Thế mà, lại bồn chồn, mất thế quân bình và khắc khoải khi bị lu mờ, bị xoá tên, san phẳng giữa tập thể.

Tại sao ta lại không vui và thường có phản ứng tiêu cực từ cung cách ứng xử cho tới lời nói khi người khác thành công? Tại sao chúng ta ngượng ngập, ái ngại, xấu hổ khi thất bại? Tại sao ta không ưng ý, tỏ vẻ khó chịu khi nghe người khác khen về một người nào đó? Tại sao ta phản ứng ngay khi được đề nghị thực hiện một phương pháp nào đó của người đi trước để tiến tới thành công? Tại sao chúng ta nhanh nhạy phê phán lối hành xử của một người đã thành công? Tại sao ta dễ bị tổn thương, mặc cảm khi được sửa sai?

Ồ, và tại sao ta không dễ nhã nhặn nói lời “xin lỗi” trong cung cách khiêm hạ; và ta không dễ từ tốn nhận lỗi trong thái độ bình tâm? Tại sao ta không dễ dàng chuyện vãn với người không thích ta, người xa tránh ta, người ngại ngần ta?

Quả, chúng ta đã nhiễm sâu “chủ nghĩa cá nhân”, nên đồng hình đồng dạng với nó. Tất cả xuất xứ từ “Cái Tôi” – nguồn gốc của sự “kiêu ngạo” –   thứ nọc độc kinh khiếp của ma quỷ đã tiêm chích vào chúng ta lối sống giết chết tình người với anh em, đó là lối sống – luôn tôn mình lên, coi mình là trung tâm vũ trụ. Nó là “vật cản” hiểm hóc nhất khiến chúng ta không thể khám phá ra căn tính, ra bản thể của mình là “không có gì” để chúng ta được hạnh phúc sống trong tình yêu nhân lành của Thiên Chúa và thoải mái, dễ chịu, hoà đồng, thân ái với mọi người, giúp ta dễ gần gũi mọi người, làm lan tỏa mối thân thiện giữa môi trường làm việc cũng như trong mọi quan hệ bằng hữu.

Chính Đức Giê-su đã dậy rõ ràng: “Hãy học cùng Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng” (Mt 11, 29). 

Khiêm tốn là biểu hiện của đức hạnh, là biểu hiện sự thật về mình.

Thánh Phaolo đã dậy tín hữu Roma: “Ðừng đi quá mức khi đánh giá mình” (Rm 12,3). Phải vượt qua khu vực ảo tưởng cho mình là lớn, để đi tới hữu thể đích thực của ta, con người thật của ta. Hãy sống với cuộc đời thật của ta, và cẩn trọng xa tránh cuộc đời ảo tưởng, cuộc đời tưởng tượng trong ta. Cuộc đời tưởng tượng xây dựng bằng ý kiến của mình hay dư luận của người khác. Chúng ta thường cố làm đẹp và gìn giữ con người tưởng tượng của ta, và làm ngơ với con người thật. Thánh Phanxicô Assisi khuyến cáo chúng ta: “Con người trước mặt Thiên Chúa như thế nào, thì thực sự là thế ấy, không hơn”.

Vâng theo lời dạy của Thánh Phaolo, chúng ta cần khiêm tốn “đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã phân phát cho. Ðừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,3.16).

  • Thay lời kết:

“Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì họ sẽ được Nước Đức Chúa Trời là của mình vậy”.

Ngay từ khi tạo dựng, con người đã được Thiên Chúa “quy hướng về cùng đích siêu nhiên”. Nên hạnh phúc của họ chính là được ở trong tình trạng ân sủng, tiến triển trong ơn Chúa và tiến triển trên con đường của Chúa: sự kiên nhẫn, sự nghèo khó, phục vụ tha nhân, sự an ủi… Những người này là những người hạnh phúc, những người sẽ được chúc phúc.(x. ĐTC Phanxico, Tám Mới Phúc)

Chúng ta hãy tìm sống chân lý khởi nguyên của nguồn gốc mình, là con người “không có gì”. Đó là ý định của Thiên Chúa. Chỉ trong cái sạch rỗng mọi thứ trần thế mà nó không thuộc về mình, con người mới được hưởng đúng gia tài của mình là chính Thiên Chúa, là tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

“Đức Giê-su vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có”. Sự giàu có ở đây chính là chúng ta chấp nhận sự nghèo khó trong bản thể của mình, là “không có gì” để hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa, để có sự tự do đích thực nhằm hiến tế cuộc sống lên Thiên Chúa, hầu phục vụ tha nhân với tình yêu thương trọn vẹn của Thiên Chúa.

Nữ tu Theresa Nguyễn Thị Mừng, O.P.

Comments are closed.