Nhận ra để cùng vượt qua – Chúa Nhật 13 Thường Niên, năm A

0

 2 V 4,8-11.14-16a; Rm 6,3-4.8-11; Mt 10,37-42

Lm. Gioan Pheny Ngân Giang, OP

Chúng ta có thể đọc ba bài đọc hôm nay như ba nẻo đường đưa đến cùng một lời mời gọi: hãy nhận ra. Nhận ra không chỉ là thấy bằng mắt, nhưng là biết đón nhận một sự hiện diện, một lời mời gọi của Thiên Chúa ẩn dưới những điều rất bình thường. Người phụ nữ ở Sunêm nhận ra sự hiện diện ấy nơi một người khách lạ. Đức Giêsu đích thân nói ra cái giá của việc nhận ra Người. Còn thánh Phaolô cho thấy chỉ khi cùng chết và cùng sống với Đức Kitô trong phép rửa, người ta mới hiểu yêu sách ấy đi xa đến đâu.

Mọi sự bắt đầu từ cái nhìn của người phụ nữ ở Sunêm. Trước khi nhận được bất cứ phần thưởng nào, bà đã nhận ra nơi người khách qua đường “một người của Thiên Chúa, một vị thánh” (2 V 4,9)[1]. Cái nhìn ấy đi trước ân ban. Bà không dọn phòng để được một đứa con, nhưng vì đã nhận ra Đấng mà người khách kia mang trong mình. Quả thật, ơn cứu độ nhiều khi bắt đầu từ một cái nhìn như thế: nhận ra Thiên Chúa nơi một con người, ở chỗ mà người khác chỉ thấy đó là một kẻ xa lạ.

Trong Tin Mừng, chính Đức Giêsu nói rõ cái giá của cái nhìn ấy. Từng lời của Người đều sắc bén. Người không chỉ bảo: “hãy yêu Thầy hơn”, nhưng đặt ra một đòi hỏi không thể lẩn tránh: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37). Thánh Mátthêu dùng công thức “không xứng” (ouk axios), đặt Đức Giêsu vào chỗ chỉ dành cho một mình Thiên Chúa: trên cả dây máu mủ[2]. Rồi Người nói đến thập giá: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38). Đây là lần đầu chữ thập giá (stauros) xuất hiện trong Tin Mừng Mátthêu; với người nghe thế kỷ thứ nhất, đó chưa phải là một hình ảnh đạo đức, nhưng là cây gỗ hành hình dành cho người bị án tử[3]. Sau cùng là lời nghịch lý về psychē, vừa là mạng sống, vừa là chính mình: “Ai tìm được mạng sống mình thì sẽ mất, ai đành mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm được” (Mt 10,39)[4]. Tất cả quy về một điểm: “vì Thầy” (heneken emou). Nhận ra Đức Giêsu là nhận ra Đấng có quyền đòi chỗ tuyệt đối trong đời ta.

Điều Đức Giêsu công bố bằng lời, thánh Phaolô nhận ra trong chính kinh nghiệm đức tin. Với ngài, “mất mạng sống để tìm lại” không còn là một nghịch lý để suy gẫm, nhưng là điều đã xảy ra nơi thân phận người Kitô hữu. Những ai chịu phép rửa đã thật sự “được dìm vào” (baptízō) cái chết của Đức Kitô, để được bước đi trong đời sống mới (xc. Rm 6,3-4)[5]. Phaolô không đi xa hơn lời Thầy; ngài chỉ cho thấy lời ấy có nghĩa gì khi được sống đến cùng. Yêu sách “liều mất mạng sống” chính là mầu nhiệm phép rửa kéo dài trong mọi biến cố đời người: mỗi lần bị dìm xuống bởi mất mát, thất bại, tang chế, ta lại được mời cùng chết và cùng trỗi dậy với Đức Kitô.

Từ đó, lời Chúa hôm nay trở nên rất cụ thể. Khắp nơi, mà lại rất gần và là ngay tại Việt Nam, biết bao anh chị em đang thật sự bị dìm xuống: bị bách hại, mất nhà cửa, phải rời bỏ quê hương, sống trong nỗi sợ của kẻ yếu trước bạo lực của kẻ mạnh. Nhận ra Chúa khi ấy là nhận ra khuôn mặt Người nơi kẻ bị đàn áp. Và nhận ra Người cũng là nghe lời mời bước xuống cùng họ, chết đi cho sự dửng dưng của mình, để cùng họ vượt qua nghịch cảnh và vượt thắng tuyệt vọng. Đức tin không cho phép ta đứng trên bờ nhìn người khác chìm. Đức tin đòi ta lội xuống, như Đức Kitô đã lội xuống tận cái chết.

Chính ở đó niềm hy vọng được nâng đỡ. Thế gian vẫn còn đầy bạo lực của những kẻ mạnh, những người tưởng mình không bao giờ phải chết. Nhưng trong ánh sáng Vượt Qua, quyền lực ấy chỉ là một cuộc đếm ngược. Kẻ mạnh cũng như kẻ yếu, tất cả đều “sẽ phải trả lẽ về chính mình trước mặt Thiên Chúa” (Rm 14,12)[6]. Ai khước từ cùng chết với Đức Kitô rốt cuộc vẫn phải chết một mình. Còn ai dám cùng chết với Người và với anh chị em mình thì đã bắt đầu sống lại ngay từ bây giờ. Vì thế, ta có lý do để không sợ hãi, và cũng không có quyền bỏ rơi một ai.

Sau cùng, chỉ còn một câu hỏi: hôm nay, ta nhận ra Chúa đang ở phía nào, nơi sức mạnh tưởng mình bất tử, hay nơi những người bé mọn mà Người đang chờ ta bước xuống cùng?

________________

[1]Danh hiệu ʾîš ʾĕlōhîm (“người của Thiên Chúa”) chỉ ngôn sứ; bà Sunêm “nhận ra” thánh tính ấy trước khi đón nhận bất cứ ân huệ nào (xc. 2 V 4,9; 1 V 17,18).

[2]Mt 10,37 dùng công thức pháp lý ouk axios (“không xứng”); bản song song Lc 14,26 dùng động từ “ghét” (miseō) theo lối nói Sêmít diễn tả sự ưu tiên tuyệt đối. Cả hai đặt Đức Giêsu lên trên chính dây liên hệ gia tộc.

[3]Mt 10,38 là lần đầu danh từ stauros (thập giá) xuất hiện trong Tin Mừng Mátthêu, trước cả cuộc Thương khó; với thính giả thế kỷ I, đó là khí cụ hành hình ô nhục dành cho kẻ phản loạn và nô lệ.

[4]Lối chơi chữ trên psychē (mạng sống / bản thân); logion được lưu truyền rộng, trở lại nhiều lần trong Tân Ước (xc. Mc 8,35; Lc 17,33; Ga 12,25).

[5]Động từ baptízō (“dìm xuống”) nói lên việc cùng chôn và cùng sống lại với Đức Kitô (xc. Cl 2,12; Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1227).

[6]Xc. Rm 14,12: “mỗi người chúng ta sẽ phải trả lẽ về chính mình trước mặt Thiên Chúa.” Cùng một viễn tượng đảo ngược số phận giữa kẻ gian ác và người công chính nơi sách Khôn ngoan (xc. Kn 5,1-14).

Comments are closed.

phone-icon