Sống chứng nhân

0

SỐNG CHỨNG NHÂN

 “Tôi tin đạo chứ không tin người có đạo”. Là người Kitô hữu, khi nghe câu nói này ai trong chúng ta lại không cảm thấy xót xa, ngại ngùng và phải đấm ngực ăn năn. Bởi vì, trong đời sống làm con Chúa, đã bao lần chúng ta sống chưa xứng đáng với danh hiệu kitô hữu. Chúng ta vẫn tự hào mình là ngươi Công giáo, nhưng nhiều khi cuộc  sống của chúng ta lại không minh chứng cho niềm tin của mình. Làm sao người ta có nhận ra gương mặt của Chúa Kitô, khi đời sống của người kitô hữu chưa thể hiện được niềm xác tín vào Đức Kitô và chưa diễn tả đúng cốt lõi của Tin Mừng. Thánh Giacôbê khẳng định: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Lời nhận định đó đã, đang và sẽ còn cật vấn mỗi người Kitô hữu, cách riêng cho bản thân chúng ta những người đang sống trong ơn gọi hiến dâng.

1. Thực trạng xã hội và con người hôm nay

 Chúng ta đang sống trong thời đại tục hóa, con người hôm nay bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, hưởng thụ. Cuộc sống của con người dường như luôn căng thẳng bởi phải chạy đua với thời gian và công việc. Nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ, con người đã đạt được những thành công nhất định; nhưng bên cạnh đó là vô vàn các tệ nạn xã hội. Tỉ lệ giàu- nghèo ngày càng chênh lệnh. Điều đáng quan ngại hơn đó là những người trẻ, họ là tương lai của xã hội và Giáo hội, nhưng lại thiếu trưởng thành trong suy nghĩ và hành động, chưa biết cách làm chủ bản thân. Nhiều người trẻ ngày nay chỉ thích chạy theo thần tượng mà không có một định hướng tương lai cho đời mình.

Trước thực trạng đó, chúng ta phải nói gì, làm gì để đồng hành, hướng dẫn và giúp đỡ con người hôm nay đi đúng hướng. Thậm chí, ngay cả với những người công giáo, “đức tin của người Kitô hữu đang phải đối diện với nhiều vấn đề, do não trạng của con người đã thay đổi, nhất là ngày nay cho rằng sự chính xác hợp lý thuộc về lĩnh vực chinh phục của khoa học và công nghệ ”. Tuy nhiên, Giáo hội vẫn luôn theo dõi, hướng dẫn và đặc biệt “Giáo Hội không bao giờ sợ chứng minh rằng không có bất kỳ xung đột nào giữa đức tin và khoa học chân chính, vì cả hai đều hướng đến chân lý, mặc dù bằng những con đường khác nhau” [1].

Như vậy, muốn sống và làm chứng cho Đức Kitô, trước hết chúng ta phải xác tín niềm tin của mình vào Đức Kitô và phải có tinh thần Nhập Thể và Nhập Thế như Ngài. “Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể, đã liên kết mình với những điều kiện xã hội và văn hóa của người đương thời với Ngài, nhằm thâm nhập Tin Mừng của Ngài vào dân tộc cách sinh động sâu xa trong nền văn hóa của con người”(AG 8).

2. Vai trò chứng ta của người Kitô hữu.

Đức Phaolô VI đã nói: “Con người hôm nay cần chứng nhân hơn thầy dạy”. Vậy chúng ta có thể làm chứng cho Đức Kitô bằng cách nào?

2.1 Chứng nhân trong lời nói

Không có lời nói nào thuyết phục người nghe bằng lời nói sự thật, nhưng không phải lúc nào nói lên sự thật cũng dễ dàng được mọi người đón nhận. Đức Giêsu là một bằng chứng cụ thể: Ngài đã đến trần gian để sống và làm chứng cho sự thật và Ngài đã dùng chính cả mạng sống mình để làm chứng cho sự thật. Nhưng chỉ những người đứng về phía sự thật mới đón nhận Ngài.

Thực tế, để làm chứng nhân trong lời nói thật không dễ chút nào, bởi người ta thường nói “sự thật mất lòng”, để nói lời vừa tai người nghe, thì chúng ta phải lựa lời hợp với ý họ. Nhưng liệu những lời hợp ý con người, có hợp với ý của Thiên Chúa hay không? Bởi thế, người Kitô hữu muốn trở thành chứng nhân của Thiên Chúa, thì lời nói đó phải thấm nhuần tinh thần của Đức Kitô, nghĩa là lời nói của họ phải đượm tình bác ái yêu thương, chứ “đừng nói lời gian ác điêu ngoa”(1Pr 3,10).

Trong một xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ, chúng ta có đủ khả năng và niềm tin để “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng tahay không?(1Pr 3,15). Thời đại của chúng ta, dường như mọi người không còn muốn nghe lời chân lý mà chỉ muốn nghe những lời nịnh hót và nghe theo dục vọng của mình. Nhưng Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”(2Tm 4,2). Dẫu biết rằng những lời chân lý sẽ bị khước từ, thậm chí bị coi thường và lên án, nhưng cuối cùng chỉ có lời chân lý mới có sức giải thoát con người. Mahatma Gandi đã từng nói: “Một chân lý mà bị muôn người bác bỏ thì nó vẫn là chân lý”. Hơn nữa, có Thần Khí của Thiên Chúa luôn ở trong chúng ta, nhờ Thần Khí chúng ta sẽ nói ra những điều nhiệm mầu (1Cr 14,2). Vì thế, chúng ta không sợ phải làm chứng cho Đức Kitô, vì không phải một mình chúng ta nói mà chính Thần Khí sẽ cầu thay nguyện giúp và sẽ nói thay chúng ta.

Nhưng làm chứng bằng nói thôi thì chưa đủ sức thuyết phục, người Kitô hữu cần phải làm chứng bằng hành động cụ thể

2.2 Chứng nhân trong cách thực hành sống đạo

Mahatma Gandi, người được coi là một vị thánh của dân tộc Ấn Độ, trong cuốn tự thuật của mình ông đã thú nhận rằng: ông rất thích đọc Kinh Thánh, đặc biệt là bài giảng trên núi…ông thật sự nuôi ý định trở thành một Kitô hữu. Một ngày kia, ông bước vào một nhà thờ công giáo để dự lễ và nghe giảng, người ta đã chặn ông lại và nói với ông, nếu ông muốn dự lễ xin mời ông đến một nhà thờ dành cho người da đen. Ông đã ra đi và không bao giờ trở lại.

Câu chuyện trên đây cho thấy, người kitô hữu đã không thực hành đúng với Tin Mừng của Chúa. Bởi ơn cứu độ của Đức Kitô được ban cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da chủng tộc, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo…Nếu như người kitô hữu thực hiện đúng lệnh truyền của Đức Kitô: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ ”(Mt 28,19), thì đã không có nhiều người như M.Gandi phải ra đi trong thất vọng.

Thật vậy, có lẽ xưa nay nhiều người trong chúng ta vẫn còn coi trọng lý thuyết hơn thực hành, nếu một đời sống chỉ toàn lý thuyết mà thôi thì chẳng khác gì một người sống trên mây trên gió; hay như “người ngu dại xây nhà trên cát”(Mt 7,26). Trong cách thực hành sống đạo của người Kitô hữu phải thể hiện được cốt lõi của Tin Mừng. Điều cốt lõi ấy được Đức Giêsu tóm gọn trong cụm từ “mến Chúa yêu người”.

“Mến Chúa” là làm đẹp lòng Chúa bằng cách sống đúng những điều Chúa dạy “kính mến Chúa trên hết mọi sự”, vậy mà không ít người Kitô hữu lại tin vào bói toán tử vi, coi trọng tiền bạc, địa vị hơn Chúa. Người Kitô hữu nhiều khi chỉ có danh mà không có thực. Bởi cách sống đạo của chúng ta nhiều khi chỉ là hình thức bên ngoài. Người tín hữu Việt Nam vẫn giữ được thói quen đi lễ đọc kinh, cầu nguyện nhiều, nhưng xét về mức độ thực hành thì chưa khả quan lắm. Nhiều khi chúng ta chỉ giữ đạo trong nhà thờ, còn ra ngoài thì nói xấu, chia rẽ, gièm pha nhau đủ điều. Chúng ta vẫn tự hào đạo Công giáo là đạo của sự thật, thế nhưng chúng ta vẫn ăn gian nói dối, lừa lọc nhau chỉ vì một mối lợi thấp hèn. Ngày nay, không ít người Kitô hữu chỉ vì muốn tiến thân trong công việc, muốn có địa vị xã hội mà không dám xưng mình là người Công giáo trong sơ yếu lý lịch hay trong đơn xin việc làm, ngại ngùng khi làm dấu thánh giá công khai trước mặt bạn bè. Nếu người Kitô hữu chưa sống đúng, chưa xác tín vào niềm tin của mình thì làm sao có thể giới thiệu Chúa cho người khác được.

Đức Giêsu đã dạy chúng ta phải “yêu người thân cận như chính mình”, phải thể hiện bằng lối sống bác ái với tha nhân. Đạo của chúng vẫn được gọi là đạo của những người yêu thương nhau. Khi chúng ta thực hiện tình yêu thương với mọi người, thì họ sẽ nhận ra Thiên Chúa của chúng ta là ai. Câu chuyện sau đây là một bằng chứng cụ thể:

Bà Lê Thị Ngọc Lan quê ở Phan Thiết. Bà bị nhiễm HIV do người chồng quá cố đã truyền sang. Hai đứa con khi biết mẹ bị nhiễm HIV thì bỏ mặc không một lần thăm viếng. Đau khổ về cả thể xác lẫn tinh thần, chút tiền dành dụm được cũng không cánh mà bay. Mấy ngày không ăn không uống, bà Lan đói quá phải bò sang nhà hàng xóm xin giúp đỡ. Hai chi em My và Thủy thấy bà Lan gõ cửa nhà mình, đã đưa bà vào nhà thăm hỏi, cho bà ăn uống, cho gạo và một ít tiền rồi đưa bà về nhà. Tối đến hai cô còn đến thăm hỏi, khi biết hoàn cảnh của bà Lan, hai cô đã báo cho hội Legio của Giáo xứ Thánh Mẫu đến thăm. Nhờ sự quan tâm yêu thương của mọi người. Bà Lan đã xin mọi người dạy cho mình biết cầu nguyện và học đạo. Bà nói “nếu những người đang yêu thương tôi là con của Chúa thì tôi cũng muốn được trở nên con Chúa”. Sau đó ít lâu bà được rửa tội và bà đã khuyên được người chị ruột của mình theo đạo [2].

Dân gian Việt Nam có câu “lời nói lung lay gương bày lôi kéo”. Thật vậy, không có gì dễ lôi cuốn sự chú ý của người khác bằng đời sống đạo hạnh, bác ái của chúng ta. Đức tin “hành động qua đức ái ” (Gl 5,6) Để giới thiệu khuôn mặt Đức Kitô cho mọi người, thì chúng ta phải thực thi điều Chúa dạy “yêu người thân cận như chính mình”, người thân cận ấy có khi là người ăn xin ở vệ đường, người bị xã hội miệt thị hay người bà con lối xóm với chúng ta, thậm chí cả kẻ thù hằn chúng ta nữa…

Đúng như lời của Đức phaolô VI đã nói: Con người hôm nay tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết. Họ có thể tin vào lời rao giảng của chúng ta, khi chúng ta đã sống và thể hiện điều chúng ta đã rao giảng.

2.3 Chứng Nhân của Người Tu Sĩ

Thánh Giacôbê nhấn mạnh “đức tin không có việc làm là đức tin chết”(Gc 2,17).

Người tu sĩ phải là một chứng nhân sống động cho Đức Kitô qua việc sống và tuân giữa các lời khuyên Phúc Âm. Chúng ta được mời gọi để theo sát Đức Kitô, hiến thân phụng sự Chúa và mưu ích phần rỗi cho các linh hồn. Qua ba lời khấn, người tu sĩ đã dâng cho Thiên Chúa những quyền căn bản của con người như: quyền yêu và được yêu, quyền tự do định đoạt, quyền làm chủ bản thân. Nếu sống trọn những yêu sách này, thì đời sống của người tu sĩ sẽ phản chiếu Nước Trời mai hậu.

 Hơn nữa, trong sứ vụ phục vụ các linh hồn, người tu sĩ có trách nhiệm đồng hành, hướng dẫn mọi người đến đời sống hoàn thiện và trở nên con cái Chúa. Trong sứ vụ huấn luyện, giảng dạy các trẻ em, thanh thiếu niên… chúng ta phải là người hướng dẫn các em đến với Thiên Chúa qua đời sống yêu thương, dấn thân phục vụ. Trong trách nhiệm hướng dẫn các tâm hồn, chúng ta phải có ơn Chúa, phải là một con người thấm nhuần tinh thần Tin Mừng. Muốn thế, chúng ta phải là con người biết cầu nguyện, có đời sống gắn bó thân mật với Chúa. Hơn nữa, trong năm đức tin này Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải “làm tăng trưởng đức tin với cảm nghiệm về tình yêu đã lãnh nhận và biết thông truyền đức tin với cảm nghiệm về ân sủng và niềm vui”[3]. Có như thế, chúng ta mới có thể thông truyền đức tin và chia sẻ niềm vui của Chúa Phục sinh cho người khác.

TẠM KẾT

Nếu con người thời nay cần chứng nhân, thì người kitô hữu phải là những chứng nhân: “đem yêu thương vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm” (Kinh hòa bình).

Quả vậy, qua lối sống, suy nghĩ, cách hành động của con người thời nay, gương sống của người Kitô hữu sẽ là dấu chứng để truyền đạt nội dung Tin Mừng một cách sinh động và có hiệu quả nhất. Các thánh tử đạo ngày xưa phải đổ máu đào để minh chứng niềm tin và để gieo hạt giống Tin Mừng khắp thế giới. Ngày nay, tuy không phải đổ máu, nhưng qua việc sống trung thành với niềm tin, trung thành với lời khấn, với việc bổn phận trong gia đình, trong xã hội, người Kitô hữu sẽ là một nhân chứng cho Đức Kitô và dấu chỉ cho niềm hy vọng của con người hôm nay. Muốn làm được tất cả những điều trên, mỗi người chúng ta phải luôn liên kết với Thiên Chúa Ba Ngôi qua đời sống gắn bó với Ngài, phải luôn cầu nguyện với niềm tin tưởng phó thác cho Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa soi sáng, hướng dẫn trong mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta.

Sr. Maria  Xuân Hương  

——————
[1] x. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Porta Fidei, số 12 
[2] Trích Báo Công Giáo và Dân Tộc, số 1801.
[3] x. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Porta Fidei, số 7 

Comments are closed.