Vai trò của gia đình Kitô hữu trong việc Tân Phúc âm hóa

0

VAI TRÒ CA GIA ĐÌNH KITÔ HU
TRONG VIC TÂN PHÚC ÂM HÓA

 

Gia đình là tế bào của xã hội và của Giáo hội. Gia đình lành mạnh tốt đẹp là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, an vui, phát triển bền vững. Tương lai của thế giới hệ tại cuộc sống gia đình. Cũng thế, gia đình là mái trường đầu tiên bất khả thay thế để dạy dỗ và hình thành nhân cách con người, để chuyển giao đức tin và đời sống đạo hầu xây dựng và phát triển Hội thánh Chúa nơi trần thế, nên được gọi là “Hội thánh tại gia”.

Chính do vai trò quan trọng của gia đình mà ta không hề ngạc nhiên khi Đức Giêsu đã chuẩn bị sứ vụ cứu thế của Ngài trong suốt 30 năm ẩn dật tại mái ấm gia đình thánh gia thất. Thánh gia thất là mẫu mực cho đời sống gia đình, trong đó ta gặp thấy nhiều yếu tố căn bản: đời sống hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa của mỗi thành viên, dù trong những hoàn cảnh rất khó khăn phức tạp, sự hòa thuận, hiệp nhất, yêu thương và phục vụ lẫn nhau, sự chu toàn bổn phận và trách nhiệm của từng thành viên tạo nên một trật tự liên hoàn trong gia đình, nhất là sự hiện diện của Chúa Giêsu trong gia đình làm nên bầu khí thánh thiện, an bình và hoàn toàn hiến trao cho nhau.

Đề cập đến vai trò của gia đình trong đời sống đạo hôm nay, Thư chung của HĐGMVN đã viết: “Để có được lối sống đượm tinh thần Tin mừng, chúng tôi xác tín rằng gia đình Kitô giáo nắm giữ một vai trò không thể thay thế. Thật vậy, gia đình chính là mái trường đầu tiên và quan trọng nhất trong việc giáo dục những đức tính nhân bản cũng như lòng đạo cho con người. Với tư cách là tế bào căn bản của Giáo hội và Giáo hội, gia đình hãy quan tâm xây dựng và duy trì những giá trị vô cùng cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình. Làm được như thế, chính là góp phần tích cực vào sự phát triển vững bền của xã hội cũng như Giáo hội. Khi trung thành cầu nguyện chung với nhau, thánh hóa ngày Chúa nhật, duy trì bầu khí trên thuận dưới hòa, nhìn nhượng lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, gia đình anh chị em sẽ trở nên chứng từ hùng hồn cho đạo thánh Chúa. Khi vợ chồng vượt lên mọi thử thách, sống trung tín và chung thuỷ sắt son như lời cam kết ngày cử hành hôn lễ, gia đình anh chị em đã góp phần kiến tạo nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống cho đất nước của mình. Trong tư cách Kitô hữu sống đạo, anh chị em hãy cương quyết không để cho văn háo sự chết lôi cuốn mình, không chấp nhận mọi hình thức xúc phạm đến sự sống và phẩm gái con người, nhất là can đảm nói không với tệ nạn phá thai và ly dị vốn là những tệ nạn luôn luôn để lại hậu quả bi thảm cho gia đình cũng như cho xã hội và Giáo hội”.

Thượng Hội đồng Giám mục Thế Giới lần XIII bàn về Tân Phúc âm hóa cho thế giới ngày nay đề cập đến gia đình như môi trường đầu tiên và quan trọng trong việc Tân Phúc âm hóa. Không những Tân Phúc âm hóa cho gia đình, mà gia đình còn đóng vai trị thiết yếu trong việc tân phúc âm hóa cho con người, từ vợ chồng cha mẹ đến con cháu và các thế hệ kế tiếp. Đức Giám mục Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục Giáo phận Phan thiết đã tham luận trước các nghị phụ THĐGM về đề tài vai trị gia đình trong việc Tân phúc âm hóa. Trong bài chia sẻ này chỉ muốn đề cập đến một vài khiá cạnh cốt yếu sau đây :

–  Đời sống hôn nhân và gia đình Kitô giáo

–  Sinh dưỡng và giáo dục con cái

–  Chuyển giao đức tin

–  Đời sống đạo đức của gia đình

–  Xây dựng và phát triển xã hội

I. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO

1. Ơn Gi Hôn Nhân

a. Hôn nhân là ơn gi

– Nên thánh gia đi

Đời sống như ơn gọi. Mỗi người được Thiên Chúa mời gọi cách khác nhau. Hôn nhân ơn gọi của những ai sống bậc gia đình. Thiên Chúa đã mời gọi Ađam và Eva sống đời hôn nhân đầu tiên, để từ đó phát sinh mọi hôn nhân nhân khác (St 1,22-24), mỗi hôn nhân là một cuộc đổi đời, mỗi hôn nhân là một cuộc mạo hiểm đi tìm hạnh phúc. Mẫu số chung của mọi ơn gọi là “Nên trn lành như Cha trên tri là Đng trn lành” (Mt 5,48; cf. Lv 19,2) hầu đạt tới hạnh phúc đích thực.

– Cng tác vào công trình sáng to và phát trin

Thiên Chúa đã khởi sự công việc sáng tạo tốt đẹp. Ngài mời gọi con người cộng tác và tiếp tục làm cho sáng tạo ngày thêm hoàn mỹ. Hôn nhân là cách sống ơn gọi làm người, nhờ đó ta thành toàn nhân cách và trở nên người hơn để cộng tác với Đấng Tạo Hóa sinh ra những con người mới, phát triển xã hội ngày càng đông đảo và làm cho Dân Chúa ngày thêm phong phú.

b. Hôn nhân là giao ước

Hôn nhân là giao ước hay khế ước được tự do ký kết giữa một người nam và một người nữ và có giá trị trọn đời cho cả hai người. Khi đi rao giảng, Chúa Giêsu đã xác minh ý nghĩa nguyên thủy của sự phối hợp giữa người nam và nữ như Thiên Chúa muốn từ lúc đầu (x. Mt 19,8). Ngài nhấn mạnh tính bất khả phân ly của mối dây ràng buộc hôn nhân (x. Mt 19,10) và nâng hôn nhân lên hàng bí tích hầu giúp đôi bạn nên thánh (Mt 19,3-6). 

2. Bí Tích Hôn Nhân

Bí tích hôn nhân tạo thành “mt cng đng đích thc v s sng và tình yêu” giữa một người nam và một người nữ. Giao ước này đã được Thiên Chúa thiết lập và ban những quy luật riêng. Tự bản chất, giao ước này hướng về lợi ích của hai người phối ngẫu cũng như về việc sinh sản và giáo dục con cái.

Bí tích hôn nhân nói lên sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Bí tích này ban cho hai vợ chồng được biết yêu nhau như Chúa Kitô đã yêu thương Hội Thánh. Như vậy, ân sủng của bí tích sẽ kiện toàn tình yêu của hai vợ chồng, củng cố tính đơn nhất, bất khả đoạn tiêu của họ và thánh hóa họ trên đường đi tới sự sống muôn đời.

Vì là một giao ước, Bí tích Hôn nhân đòi hỏi đôi bạn sự hiu biết và có ch ý (GL 1097, 1098), t do chứ không bị một áp lực nào từ bên ngoài và bất chính (GL 1103), h tương nghĩa là cả hai cùng ưng thuận, chỉ cần một bên không ưng thuận, hoặc giả vờ ưng thuận thì hôn ước vô hiệu. (GL 1102, 2), t ra bên ngoài nghĩa là phải bộc lộ ra ngoài bằng cách nói ra để người ta có thể nhận ra được (GL1104, 2) và tuyt đmà không được đặt một điều kiện nào cho hôn nhân. Nếu đặt điều kiện ngược lại với với mục đích và đặc tính của hôn nhân thì hôn ước vô hiệu (GL 1102). 

3. Tình yêu là nn tng

Từ khởi thuỷ sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên người nam (Ađam), và từ Ađam Thiên Chúa dựng nên người nữ (Eva). Người tác hợp họ nên một (x. St 2,25) và ban cho họ hạnh phúc Địa Đàng. Đây là cặp hôn nhân đầu tiên của lịch sử nhân loại. Như thế, hôn nhân nằm trong kế hoạch đời đời của Thiên Chúa Tình yêu và là công trình khôn ngoan của Người. Do đó, bn cht ca hôn nhân chính là tình yêu.

Tư tưởng Nho giáo chú trọng vào nề nếp trật tự, xây dựng con người có trách nhiệm và đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội, có thể tóm lược vào bốn chữ “Ngũ luân, ngũ thường”, gọi là luân thường đạo lý. Ngũ luân là tình vua-tôi, tình cha-con, tình vợ-chồng, tình anh- em, tình bè-bạn. Ngũ thường là nhân – lễ – nghĩa – trí – tín. Khi con người biết tuân giữ đúng đắn những tương quan trên, ắt sẽ đạt tới hạnh phúc. Học thuyết Khổng giáo, theo Kinh Dịch, chủ trương trời đất do Âm – Dương tạo nên. Âm-dương là đạo của trời đất, cương kỷ của vạn vật. Cho nên trai phải có vợ, gái phải có chồng, phối hợp âm dương mới có thể sinh trưởng được. Đó là lẽ tự nhiên của trời đất. Như vậy, vấn đề hôn nhân chỉ được nhìn dưới khía cạnh thiên nhiên như một hấp lực đực – cái, giống như các sinh vật khác, và không đặt vấn đề yêu đương. Người tuổi trẻ hôm nay khó chấp nhận một mẫu gia đình trong đó người vợ phải chấp nhận chữ “tòng” chứ không được nghĩ đến chữ “yêu”.

Tư tưởng Lão giáo được ghi chép trong “Đạo Đức Kinh”. Chữ “đo” của Lão Tử có rất nhiều nghĩa: vừa là nguyên thủy của vũ trụ, vừa là toàn thể vũ trụ, vừa là nguyên tố của vạn vật, vừa là con đường dẫn tới nhịp chuyển vận của vũ trụ để được trường sinh bất tử trong “vô vi”. Lão Giáo không nói gì về hôn nhân và vợ chồng, không nói gì về vấn đề yêu đương. Lão giáo khuyên con người nên sống tiêu dao, dinh dưỡng thể xác và tâm hồn, càng hòa hợp với thiên nhiên bao nhiêu càng được hạnh phúc bấy nhiêu.

Trong giáo lý Phật giáo, chữ tình được xếp vào Thập Nhị Nhân Duyên, là một trong mười hai sự ham muốn lôi cuốn con người vào vòng luân hồi nghiệp chướng: Tu là cõi phúc, tình là dây oan. Tình là dây oan, vì tình là một ham muốn mãnh liệt trói buộc con người vào đau khổ như sợi dây oan nghiệt. Tu là cõi phúc vì chỉ có con đường xa lánh trần tục, vui với câu kinh tiếng kệ nuôi tâm dưỡng tính, mới gỡ thoát khỏi dây oan nghiệt của chữ tình để tới cõi phúc Niết Bàn.

Theo Thánh Kinh, con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1,28), mà Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,8), thế nên con người được tạo dựng để yêu và được yêu. Yêu thương là căn tính của con người. Tin Mừng còn cho biết tình yêu gắn liền với thập giá, tình yêu mạnh hơn sự chết. Sách Sáng Thế thuật lại ngay từ khởi nguyên sáng tạo, Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ giống hình ảnh Thiên Chúa và Người đã chúc phúc cho sự phối hợp vợ chồng tiên khởi này. Do đó người nam từ bỏ cha mẹ, lưu luyến người nữ và cả hai trở thành “mt thân th” (St 1-2). Nhiều ngôn sứ (Hs 1,2; Gr 18,1; Is 1,21; Ed 16.23… ) và sách Diễm Ca đã sử dụng hình ảnh tình yêu nam nữ để diễn tả mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và Dân Israel: Thiên Chúa như người chồng chung thuỷ, trong khi đó Israel, dân tuyển chọn, như người vợ bất trung, phản bội chạy theo tình lang. Dù vậy, tình của Thiên Chúa cũng không dập tắt vì Người luôn thành tín với tình yêu thủa đầu.

Trong Tân Ước, tình yêu nam nữ chỉ tìm thấy toàn vẹn ý nghĩa khi trở thành tình yêu vợ chồng qua bí tích Hôn phối. Thánh Phaolô so sánh tình yêu vợ chồng với tình của Chúa Kitô đối với Giáo hội mà ngài gọi là “mu nhim vĩ đi” (Ep 5,32). Nhiều lần Chúa Giêsu đã ví Nước Trời như tiệc cưới và tự ví mình như chàng rể (Mt 9,15; 22,1-14; 25,1-13; Ga 3,29).

Chúa Kitô đã dạy về tình chung thủy gắn bó, không có gì có thể phân chia tình vợ chồng trong hôn nhân: “V chng không còn là hai mà là mt. Nhng người Thiên Chúa đã kết hp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). Giáo huấn này không phải dễ hiểu và dễ chấp nhận. Chính những môn đệ của Chúa Kitô cũng đã thốt lên: “Nếu số phận của người nam phải đối xử với vợ như vậy, thà đừng kết hôn còn hơn”. Và Chúa Kitô đã trả lời: “Không phải ai cũng hiểu được. Chỉ có kẻ Chúa cho hiểu mới hiểu” (Mt 19,10-11).

Tình yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu liên kết hai người, tạo cảm thông và thúc đẩy hai người hy sinh xây dựng hạnh phúc cho nhau. Chỉ có một tình yêu đích thực mới có thể đáp ứng được những yêu cầu đó. Tình yêu hôn nhân vì thế không phải chỉ là thứ tình cảm say đắm nhất thời (eros), nhưng là sự đón nhận lẫn nhau với lòng tôn trọng để yêu, trao hiến và phục vụ vô điều kiện, để cùng nhau xây dựng hạnh phúc hôm nay và đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.

Trong đời sống chung, tình yêu hôn nhân đòi hỏi sự Hy sinh bằng nhẫn nhục, tha thứ, bằng chiến thắng tính ích kỷ, bằng cho đi và phục vụ (x. Ga 15,13), Chp nhn ln nhau và cng tác xây dng. Hạnh phúc là ân huệ Chúa ban nhưng qua sự chấp nhận và xây dựng của hai người. Không phiền trách và đổ lỗi cho nhau, cho số phận, nhưng cùng nhau bắt tay xây dựng, có khi từ số không, lòng tin tưởng nơi nhau, sự Chung thxuất phát từ ý định của Thiên Chúa và từ ý nghĩa mục đích của hôn nhân: “S gì Thiên Chúa đã kết hp, loài người không được phân ly (Mt 19,6b).

Giới tính, tính dục, tình dục, tình yêu… tất cả đều do Chúa ban nhắm mục đích tốt lành, hướng tới những lợi ích hôn nhân và phát triển đời sống gia đình. Nhưng một khi sử dụng giới tính để thỏa mãn tò mò, đòi hỏi xác thịt, nghịch với mục đích Chúa muốn, thì đó là dâm dục. Kitô hữu cần nhận biết Chúa ban cho con người có giới tính để hấp dẫn, bổ sung, yêu thương nhau; cố gắng tự chủ bản thân, vận dụng giới tính theo mục đích Chúa muốn là trao đổi, hiệp thông trong tình yêu vị tha, chứ không bằng tình yêu vị kỷ là chỉ muốn tìm hưởng thụ khoái lạc nhục dục. Tính dục là để phục vụ tình yêu vị tha trong đời sống hôn nhân.

Những điều trên đây được đúc kết trong giáo huấn của Công đồng Vatican II: “Bi giao ước hôn nhân, người nam và người n không còn là hai nhưng là mt xương tht (Mt 19,6) phc v và giúp đ ln nhau bng s kết hp mt thiết trong con người và hành đng ca h, cm nghim và hiu được s hip nht vi nhau mi ngày mi đy đ hơn. S liên kết mt thiết vn là s t hiến ca hai người cho nhau cũng như li ích ca con cái buc hai v chng phi hoàn toàn trung tín và đòi hi kết hp vi nhau bt kh phân ly” (MV 48).

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, nhân dịp viếng thăm Mexico tháng 5.1990, đã nói về gia đình như sau: “Tình yêu trong thế gii ngày nay đang b đe da bng nhiu cách và tình yêu gia đình đang b lu m dn dn. Thực vậy, trong xã hội tục hóa và thực dụng ngày nay, sách vở, báo chí, phim ảnh đang cổ võ cho một cuộc sống tính dục ích kỷ, buông thả, tách biệt tình dục khỏi tình yêu, đồng hóa tình dục với tình yêu, đưa đến thảm kịch là tự do yêu đương, tự do ân ái, tự do ly dị, mãi dâm, hiếp dâm… Tình yêu hôn nhân đang bị đe doạ.

Để sửa lại tình trạng này, Đức Thánh Cha nhắc lại sự cao cả và trách nhiệm của gia đình. Ngài kêu gọi: “Vì thế, hi các cha m Công giáo, bn phn ca anh ch em là xây dng và gìn gi t m này trong đó con cái anh ch em được sinh ra ln lên trong phm giá làm con Thiên Chúa. Nhưng tình yêu ca anh ch em ch có th nói v Thiên Chúa cho con cái ca anh ch em nếu trước hết anh ch em được sng trong s thánh thin và trong vic tn hiến hoàn toàn cho nhau trong hôn nhân”. Đề cập đến hôn nhân, Đức Thánh Cha nhắn nhủ Hôn nhân Công giáo trước hết đòi trung thành trong tình yêu và quảng đại tận hiến cho nhau để đón nhận ơn của sự sống. Người chồng và người vợ đóng kín đối với nhau vì họ từ chối việc tận hiến cho nhau trong chức vụ làm cha làm mẹ, sẽ biến việc tác hợp hôn nhân thành một việc thỏa mãn ích kỷ của mình. 

II. SINH DƯỠNG VÀ GIÁO DC CON CÁI

1. Con cái là hng ân

Đôi bạn nào cũng muốn có con. Gia đình không con như lồng không chim. Vì thế, con cái là kết tinh của tình yêu vợ chồng, là tương lai của lứa đôi, là hồng ân và phúc lộc Chúa ban. Trời cho mới được. Tuy nhiên, không thiếu gì những trường hợp bất thường: cha mẹ coi con như một gánh nặng, một của nợ, một sự chẳng đặng đừng… Đôi bạn đừng quên rằng, ngay từ đầu Thiên Chúa đã nói với loài người “hãy sinh con cái cho đy mt đ” (St 2,28), và địa vị cao cả của những người theo ơn gọi gia đình là trở thành những người cộng tác với Chúa trong việc truyền sinh, tức là việc tiếp tục tạo dựng con người. Tự nó “vic v chng hiến thân cho nhau phi hướng v mc đích sinh sn con cái“. Đó là lý do tại sao Giáo hội khuyến khích vợ chồng đón nhận con cái. Tuy nhiên, không phải là quyền hạn hay bổn phận Giáo hội ấn định cho đôi bạn phải sinh mấy con, hoặc sinh theo nhịp độ hai năm hay ba năm một đứa. Việc có con hay không, có bao nhiêu đứa, khi nào có con, là quyền lợi và bổn phận của đôi bạn. Giáo hội chỉ hướng dẫn, nhắc nhở. Đôi bạn phải lãnh nhận lấy trách nhiệm và quyền lợi của mình với mt lương tâm có trách nhim, nghĩa là để quyết định sinh con hay không sinh con, đôi bạn phải cầu nguyện, cùng nhau suy nghĩ đắn đo, đối chiếu với Giáo huấn của Giáo hội và dựa trên những điều kiện thực tế của bản thân, của gia đình và của xã hội mà đôi bạn đang sống. Trong Thông điệp “Sự Sống và Con Người” (Humanae Vitae), Đức Phaolô VI nhấn mạnh “lương tâm trách nhim” này.

2. Giáo dc con cái

Sách Huấn ca dạy: “Hãy giáo dc và un nn con cái ngay t thu còn thơ” (Hc 7,23); nếu không, “chúng trở nên mất dạy và làm nhục cho cả cha lẫn mẹ” (Cf. Hc 21,3-5;Hc 30,13); Trái lại, “Cả kho tàng của thế giới cũng không quý bằng có một người con được giáo dục tốt vì biết giáo dục con sẽ được thỏa lòng về con và được hãnh diện vui sướng trước mọi người” (x.30,2-3).

3. Vai trò ca cha m

“Sinh thành, dưỡng dục” là hai trách nhiệm gắn liền với nhau. Nhiều cha mẹ chỉ biết lo lắng làm ăn kinh tế, nghĩ rằng họ có bổn phận lo cho con cái một cuộc sống dư giả, đầy đủ tiện nghi, còn việc giáo dục thì đã có những nhà chuyên môn, các thầy cô ở trường. Quan niệm thật sai lầm đó sẽ làm cho họ trở thành những nạn nhân đầu tiên của con cái khi chúng thiếu sự quan tâm giáo dục của cha mẹ trong gia đình.

Cha mẹ là nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu cho con cái. Vai trò này quan trọng đến nỗi nếu họ thiếu sót thì khó lòng mà bổ khuyết được (x.THGĐ, 36). Cha mẹ phải bảo vệ quyền và bổn phận giáo dục con cái mình, vì quyền và bổn phận này vừa là điều cốt yếu, vừa là một điều độc đáo và chiếm hàng đầu so với bổn phận giáo dục của các người khác, vừa là điều không thể thay thế và không thể chuyển nhượng, nghĩa là không thể khoán trắng cho người khác. Cha mẹ phải lấy tình thương phụ tử, mẫu tử để giáo dục con cái. Người ta vẫn thường ví: lương sư như phụ mẫu; lương y như từ mẫu. Chính tình yêu thương của người cha như núi thái sơn, của người mẹ như nguồn chảy ra trở thành linh hồn và mẫu mực gợi lên những sáng kiến và hướng dẫn mọi hoạt động giáo dục; cụ thể: sự dịu dàng, kiên nhẫn, tốt lành, phục vụ, vô vị lợi, hy sinh, là những hoa trái quý giá nhất của tình yêu thương (x. THGĐ 36).

Tuyên Ngôn “Giáo Dục Công Giáo” viết:

Vì đã nhn lãnh ân sng cũng như bn phn ca bí tích Hôn phi, nên Cha M phi dy d con cái ngay t nh, đ chúng nhn biết và th kính Thiên Chúa cùng yêu mến tha nhân theo đc tin chúng đã nhn lãnh khi chu phép Ra ti (GD 3). Nhim v và quyn li đu tiên bt kh nhượng ca cha m là giáo dc con cái. (GD 6).

“Vì là ngun truyn s sng cho con cái, cha m có bn phn hết sc quan trng là giáo dc chúng; vì thế, h được coi là nhng nhà giáo dc đu tiên và chính yếu ca chúng. Vai trò giáo dc này quan trng đến ni thiếu sót thì khó lòng b khuyết được” (GD 3).

Giáo hội đã dạy: “T bn tính ca nó, hôn nhân và tình yêu v chng phi được hướng v vic sinh sn và giáo dc con cái, vì đó là chóp đnh cao đp ca hôn nhân” (GS 48)

Giáo luật dạy rằng:

Tự bản tính, Hôn nhân phải hướng về lợi ích tinh thần và thể xác của đôi bạn và bổn phận sinh dưỡng và giáo dục con cái (GL 1055).

Trong Tâm thơ gởi các gia đình (1994), Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã vạch cho các bậc cha mẹ “lý tưởng giáo dc công giáo là mt giáo dc toàn din” (nhân bản, kinh tế, nghề nghiệp, xã hội, luân lý, đức tin).

Tông huấn Gia đình (THGĐ 37) nhắn nhủ cha mẹ chú ý đến những điểm chính yếu sau đây:

–   Quý trọng phẩm giá và tư cách con người.

–   Ý thức về sự công bằng.

–   Quý mến tình yêu chân thành, vô vị lợi, dành ưu tiên cho người nghèo.

–   Hiểu biết rõ ràng về tính dục, chống lại khuynh hướng tìm lạc thú xác thịt.

–   Giáo dục đầy đủ về cả hai mặt nhân bản và đức tin ngay từ lúc còn thơ bé. Mặt nhân bản là dạy con nên người tốt, đặc biệt sống đạo hiếu theo truyền thống dân tộc. Mặt đức tin dạy con trở nên người con ngoan của Chúa theo gương Chúa Giêsu.

Nói tóm lại, gia đình phải quan tâm giáo dục con cái sống xứng đáng ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Chúa, dạy con cái biết sống tự do thật sự theo lương tâm chân chính, biết đáp trả lời mời gọi của Chúa trong Tin mừng, biết hướng về định mệnh vĩnh cửu.

4. Phương pháp giáo dc 

Trong Tâm thơ gởi các gia đình, Đức Gioan Phaolô II đã gợi lên ý tưởng này:

Phúc Âm tình yêu là ngun mch bt tn nuôi dưỡng các gia đình Công giáo. Tt c tiến trình giáo dc tìm được trong tình yêu s nâng đ và ý nghĩa sau cùng, vì đó là hiu qu toàn din ca v chng yêu thương và hoan h cho nhau.”

Tình yêu là nguyên tắc, là phương pháp, là dụng cụ căn bản trong mọi hành động giáo dục.

Sự cộng tác hỗ trợ của cả cha lẫn mẹ. Sự cộng tác hỗ trợ này được biểu lộ qua sự thống nhất về mệnh lệnh, giúp con cái an tâm và tin tưởng thi hành. Nên tránh tranh luận, gây gổ trước mặt con cái về các mệnh lệnh trao cho chúng. Những tranh luận, gây gổ này chỉ làm chúng hồ nghi, hoặc đưa cho chúng dịp lợi dụng sự khác biệt quan điểm của cha mẹ.

Quan tâm theo dõi. Yêu có nghĩa là chia sẻ, theo dõi, khuyến khích, chỉ dẫn. Nó ngược hẳn với sự buông thả phóng túng. Theo dõi để chia sẻ các ưu tư của con cái, để hiểu biết các giao du của chúng, để khuyến khích khi chúng làm đúng và để sửa dẫn khi chúng làm sai. Phương pháp tâm lý chú trọng đến khả năng hấp thụ của trẻ em tùy theo lứa tuổi, tùy theo cá tính và tùy theo hoàn cảnh. Nhưng đại cương thì lúc ban đầu rất quan trọng: dạy con t thu còn thơ.    

III. ĐI SNG ĐO ĐC CA GIA ĐÌNH

Hôn nhân là ơn gọi Chúa ban để vợ chồng cùng nhau và giúp nhau nên thánh, như Chúa Giêsu dạy: “Anh em hãy nên hoàn thin, như Cha anh em trên Tri là Đng hoàn thin” (Mt 5,48). Vậy, sống đạo đức trong gia đình là nên hoàn thiện bằng cách chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa giao phó cho vợ chồng, khi Ngài kết hợp bằng bí tích Hôn Phối.

Đức thánh cha Gioan-Phaolô II viết: “Trong Giáo hi, gia đình là mt Giáo hi nh, là nơi tiếp nhn và loan báo Li Chúa. Mi đôi bn phi là s gi ca tình yêu và s sng, như mt du hiu sáng chói ca s hin din ca Chúa Kitô và tình yêu ca Ngài đi vi nhng ai còn xa, đi vi nhng gia đình chưa tin và c đi vi nhng gia đình Kitô hu không sng cách phù hp vi đc tin h đã tiếp nhn“.

Để chu toàn sứ mệnh trọng đại này, Công đồng Vatican II dạy: “Gia đình s chu toàn được s mnh đó nếu gia đình t ra như mt đn th ca Giáo hi trong nhà mình, nh yêu thương nhau và cùng nhau dâng li cu nguyn lên Thiên Chúa, nếu tt c gia đình cùng tham d vào vic phng v ca Giáo hi, và sau cùng nếu gia đình t ra hiếu khách và c võ đc công bng cũng như nhng vic thin khác giúp các anh em đang túng thiếu” (Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân,11).

Theo lời dạy của Công đồng, đời sống đạo đức của gia đình có thể gốm tóm trong những yếu tố sau đây:

– Gia đình trở nên đền thờ Thiên Chúa nhờ hiệp nhất, yêu thương nhau và cùng nhau cầu nguyện.

– Mọi người trong gia đình cùng nhau tham dự việc phụng vụ của Giáo hội và thực hành những việc đạo đức bình dân được Giáo hội cổ vũ.

– Gia đình làm tông đồ bằng sống đức công bình và bác ái đối với người khác. 

1. Gia đình tr nên đn th Thiên Chúa

– Việc thực tế đầu tiên là cung hiến nhà mình ở cho Thiên Chúa (làm phép nhà) và xin Chúa làm chủ gia đình mình. Từ đó Chúa Giêsu hiện diện giữa đôi lứa làm cho sự hiệp nhất của đôi bạn trở nên trọn vẹn (hiệp nhất thể xác, tình yêu, tinh thần và thiêng liêng).

– Thánh Phêrô nhắc nhở: “Như nhng người con biết vâng phc, anh em đng chiu theo nhng đam mê trước kia, lúc anh em còn mê mui. Anh em hãy sng thánh thin trong cách ăn nếp , đ nên ging Đng Thánh đã kêu gi anh em” (1Pr 1,14-16). Vậy thì lời ăn tiếng nói tục tằn, thô bỉ, hay lớn tiếng thóa mạ nhiếc mắng nhau trong gia đình, không những gây ảnh hưởng tai hại trên con cái mình, nhưng hoàn toàn bất xứng đối với “những người con biết vâng phục” Chúa Giêsu. Còn đôi mắt, ngăn đừng cho cuồng dại. Những loại chương trình truyền hình, những loại phim ảnh xấu, những loại sách ảnh phỉ báng tôn giáo, tàn bạo, vô luân và dâm đãng, không chút nào thích đáng được cho gia đình người Kitô hữu. Phải loại chúng hẳn ra khỏi đôi mắt mình, cách triệt để, không chút chần chừ vì nhà của đôi bạn là một Thánh đường, một Đền thờ. Chúa Giêsu dạy: “Đèn ca thân th là con mt ca anh em. Khi mt anh em sáng thì toàn thân anh em cũng sáng. Khi mt anh em xu thì toàn thân anh em cũng ti.” (Lc 11, 34-35).

– Đức Kitô hiện diện trong gia đình.

“Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly”. Trong hôn nhân, Thiên Chúa kết hợp hai người không bằng luật mà bằng tình yêu chảy ra từ trái tim Con Một Người. Người kết hợp không chỉ hai người với nhau mà còn hai người với Chúa Giêsu, để hai trái tim của họ là một trong trái tim của Chúa Giêsu. Như thế, họ với nhau và với Chúa Giêsu, như chim liền cánh như cây liền cành, được trở nên một trong Chúa Kitô. Chính Chúa Giêsu gìn giữ để họ khỏi bị tách rời. Ngài phải là chóp đỉnh trong hôn nhân Kitô giáo. Vì thế, vợ chồng phải bám víu vào Ngài, xin Ngài làm chủ tình yêu và gia đình của họ.

Hạnh phúc gia đình được bảo đảm không phải bằng các thứ vật chất trên thế gian, mà là Chúa Kitô. Khi đã có Chúa Kitô trong gia đình, tất cả mọi sự cần thiết hồn xác sẽ có vì Ngài là Đấng hằng thông ban mọi ơn lành.

Tội phá vỡ và làm cho tình yêu tách rời. Chỉ có lòng mến mới trị được. Lòng mến là chính Chúa vì Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,8). Tình yêu Chúa Kitô là ánh sáng giúp vợ chồng nhận ra tội lỗi và những khuyết điểm của mình để thống hối và tha thứ cho nhau. Hôn nhân được ví như hai người cùng đi trên con thuyền vượt biển giữa những sóng gió bão tố đêm đen. Có Chúa Giêsu trên thuyền, chúng ta mới tới bến bằng an (x. Mc 4,35-41).

Gia đình muốn hạnh phúc phải gắn chặt với Chúa Kitô. Ngài là nền tảng bình an, vui mừng và yêu thương là 3 yếu tố của hạnh phúc. Gia đình Kitô hữu khác với các gia đình khác ở chỗ có Chúa Giêsu sống giữa gia đình, sống chung và làm chủ gia đình. Gia đình hạnh phúc là gia đình thuộc về Chúa Kitô. Chính lúc hai người cử hành bí tích hôn phối, nói lời cam kết vĩnh thệ, là lúc Chúa Giêsu đi vào cuộc đời hôn nhân của họ, bảo hiểm tình yêu của họ bằng tình yêu của Thiên Chúa. Ngài làm cho hai trái tim nên một với nhau trong trái tim Ngài. Với Chúa Giêsu, họ sẽ vui sống, sinh sản và giáo dục con cái trong an bình, vui mừng và yêu thương của Thiên Chúa. Sự sống còn của gia đình Kitô hữu là bí tích, Lời Chúa, nguyện cầu. Gia đình nào không lãnh nhận bí tích, bỏ lễ, không cầu nguyện, thì dù có đầy đủ tiền bạc vật chất, vẫn rạn nứt không chóng thì chầy. 

2. Gia Đình Cu Nguyn

Không có ơn Chúa, con người không thể làm được gì. Đời sống gia đình lại càng cần nhiều ơn Chúa hơn nữa. Nhưng muốn lãnh nhận, chỉ có một cách là cầu nguyện.

Gia đình là “Cộng đoàn cầu nguyện”, có nghĩa là mọi người trong gia đình đều yêu mến và thực hành việc cầu nguyện, không chỉ riêng từng người (cầu nguyện riêng tư, cá nhân) mà là chung với mọi người trong nhà (cầu nguyện chung, cầu nguyện cộng đoàn).

Để trở thành “Cộng đoàn cầu nguyện”, đầu tiên gia đình phải ý thức mạnh mẽ và sâu sắc về tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống. Cầu nguyện nói lên việc con người nhìn nhận mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Đấng tạo thành, Chúa cứu độ và quan phòng, là Cha hằng yêu thương quan tâm săn sóc đến con cái mình. Tiếp đến, mỗi người trong gia đình phải biết cách cầu nguyện riêng và chung và cả gia đình phải thực hành việc cầu nguyện chung mỗi ngày để thờ phượng, cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha mọi tội lỗi và thiếu sót của mình và xin Người ban cho những ơn cần thiết khác cho gia đình mình và các gia đình khác, cho Giáo hội và xã hội. Nhất là trong xã hội và thế giới tục hóa hôm nay, con người có xu hướng coi thường các giá trị tâm linh, gạt Thiên Chúa ra ngoài lề cuộc sống, cho rằng con người có thể giải quyết được mọi vấn đề bằng kỹ thuật khoa học, thì đời sống cầu nguyện trở nên tối cần thiết.

Cầu nguyện rất quan trọng đối với Kitô hữu vì đó là cách sống thân mật với Chúa, và giúp chúng ta đón nhận được ánh sáng và sức mạnh của Chúa. Cầu nguyện được ví như hơi thở đối với một cơ thể: hơi thở đem dưỡng khí cho cơ thể thế nào thì cầu nguyện cũng đem sức sống thiêng liêng cho cá nhân và gia đình như thế. Cầu nguyện rất quan trọng đối với gia đình vì Thiên Chúa không cứu chuộc từng người riêng lẻ mà Chúa muốn qui tụ con người thành cộng đoàn và liên kết họ với nhau. Khi vợ chồng, cha mẹ con cái cùng nhau cầu nguyện thì nói lên mối liên kết, hiệp thông, đồng tâm, đồng nguyện giữa những người thân trong gia đình. Khi vợ chồng cha mẹ con cái cùng cầu nguyện cho nhau thì thể hiện tình yêu thương tinh thần trách nhiệm và tình liên đới đối với nhau. Cầu nguyện trong gia đình còn là một phương cách tối hảo để rao giảng Tin Mừng, nhất là khi việc cầu nguyện ấy tạo nên một gia đình Kitô hữu yêu thương, thuận hòa, quan tâm đến những người chung quanh, cởi mở với mọi người, nhất là với người nghèo.

Ngày nay tâm trí con người bị chi phối rất nhiều bởi chuyện “cơm áo gạo tiền” nên khó tập trung. Cuộc sống lại bon chen, xô bồ nên có rất ít thời gian. Vì thế cha mẹ phải biết cách tổ chức việc cầu nguyện trong gia đình sao cho vừa ngắn gọn vừa có chất lượng mà lại không làm cho con cái ngán ngẫm. 

3. Gia đình tham d vic phng v ca Giáo hi và thc hành các vic đo đc bình dân

Việc phụng vụ của Giáo hội bao gồm Thánh lễ, các Bí tích, kinh Nhật tụng. Chính Chúa Giêsu hiện diện và hành động trong các phụng vụ thánh của Giáo hội. Công đồng Vatican II dạy: “Chúa Giêsu hin din trong Hy l không nhng trong con người tha tác viên, vì như xưa Người đã t dâng mình trên thp giá, thì nay chính Người cũng dâng mình nh tha tác v ca các linh mc’, mà nht là hin din tht s dưới hai hình Thánh Th. Người hin din trong các bí tích nh quyn năng ca Người; vì thế, ai Ra ti chính là Chúa Kitô ra. Người hin din trong Li ca Người, vì chính Người nói khi người ta đc Thánh Kinh trong Giáo hi. Sau hết, Người hin din khi Giáo hi cu khn và hát Thánh Vnh như chính Người đã ha: “Đâu có hai, ba người hp li nhân danh Thy, Thy s gia h (Mt 18,20) ” (Phụng Vụ Thánh ch. 7).

Chúa Giêsu ở giữa Giáo hội như cây nho và cành nho (x. Ga 15,5). Không cành nào lìa cây mà không bị khô héo. Cũng vậy, không gia đình đôi bạn nào hờ hững tham dự phụng vụ của Giáo hội mà có thể sống đạo đức được.

Phụng vụ là cao điểm của hoạt động Hội thánh và là nguồn mạch phát sinh mọi năng lực của Hội thánh. Ngoài Phụng vụ, Hội thánh khuyến khích những việc đạo đức bình dân, dĩ nhiên đã thanh lọc những thiếu sót, những quá đáng và cả hình thức mê tín. Kinh nghiệm của Hội thánh cho thấy những thực hành các việc đạo đức bình dân làm phát sinh hoa trái phong phú trong đời sống kitô hữu nơi các gia đình và các dân tộc. Những việc ấy là: Hành hương kính viếng đền Đức Mẹ để biểu lộ lòng sùng mộ, và hoán cải đời sống, lần chuỗi Mân côi trong gia đình, làm phép nhà, cầu mùa, rước kiệu, dâng hoa, lể gia tiên ngày hôn lễ, ngày tang giỗ, lộc đầu xuân,… Ngoài ra lòng sùng kính Đức Mẹ thể hiện tình con thảo, noi gương các nhân đức của Mẹ và xin Mẹ chuyển cầu. 

4. Gia đình làm tông đ

Giáo hội được Chúa Giêsu khai sinh là để làm tông đồ, là làm cho Nước Chúa rộng mở trên khắp hoàn cầu, để nhờ đó ơn Cứu Rỗi được mang đến cho mọi người. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân viết: “Những việc trong gia đình cũng như những việc ngoài xã hội, không được tách rời khỏi động lực siêu nhiên của cuộc sống, theo lời thánh Tông đồ Phaolô: “Hết thảy công việc anh em làm trong lời nói hay việc làm, hãy nhân danh Chúa Giêsu Kitô mà thực hành, nhờ Người để cảm tạ Chúa Cha là Thiên Chúa” (Cl 3,17).

– S gi ca tình yêu và s sng

Đối với đôi bạn, làm tông đồ trước hết là làm “sứ giả của tình yêu và sự sống”. Là sứ giả của tình yêu, giữa đôi bạn phải có tình yêu vợ chồng bất khả phân ly. Là sứ giả sự sống, đôi bạn phải yêu sự sống, phải có ước muốn truyền lại sự sống và bảo vệ sự sống.

Làm tông đồ của bậc cha mẹ, là bằng nhiều gương sáng hơn là bằng nhiều lời nói, huấn luyện con cái mình biết thờ phượng Thiên Chúa, biết yêu mến Giáo hội và ham chuộng làm việc tông đồ.

– Sng đc công bình và bác ái

Công đồng Vatican II dạy: “Trong các việc tông đồ của gia đình, cần phải kể đến những việc như: nhận làm con nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi, ân cần tiếp đón những khách lạ, cộng tác với học đường, khuyên bảo và giúp đỡ thanh thiếu niên, giúp những người đã đính hôn chuẩn bị cho việc hôn nhân của họ được tốt đẹp, giúp dạy giáo lý, nâng đỡ những đôi vợ chồng cũng như những gia đình khi họ gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần, lo cho những người già cả không có những điều kiện cần thiết, mà cung cấp cho họ những tiện nghi chính đáng của tiến bộ kinh tế.” (Tông Đồ Giáo Dân, 11).

Trên thực tế, đôi bạn làm việc tông đồ bằng cách tha thiết tham gia sinh hoạt các hội đoàn của Giáo xứ để làm lớn mạnh giáo xứ. Đỉnh cao của làm việc tông đồ là truyền giáo. 

IV. GIA ĐÌNH PHÁT TRIN XÃ HI

Trong Tông Huấn Gia đình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II xác định: “Gia đình Ki-tô hu tham gia vào vic phát trin xã hi (THGĐ 43 – 48). Gia đình là tế bào của xã hội; tương lai thế giới ngang qua các gia đình. Vì thế, gia đình có trách nhiệm phát triển xã hội.

1. “Gia đình là trung tâm và ngun phát sinh các thin ho xã hi”

Thiện hảo xã hội cũng được gọi là công ích, là tất cả mọi điều kiện, mọi tiện nghi về vật chất và tinh thần (văn hóa, xã hội, giáo dục, chính trị, môi sinh và tôn giáo) mà xã hội có được nhờ sự đóng góp của mọi công dân, mọi gia đình và mọi tổ chức trong xã hội ấy. Đóng góp bằng nhiều cách khác nhau: sự cống hiến lao động và tài năng, việc nộp thuế, sự dâng hiến của cải tiền bạc của những con người có lòng hảo tâm, từ thiện. Gia đình là nguồn phát sinh các thiện hảo xã hội vì những lý do sau:

Trước hết, giữa gia đình và xã hội có mối tương quan chặt chẽ. Gia đình được Đấng Tạo Hóa đặt làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người, nên gia đình trở thành tế bào đầu tiên và sống động của xã hội.

Kế đến, thiện hảo xã hội gắn liền với gia đình và xuất phát từ đó. Thật vậy thiện hảo xã hội là do con người tạo nên. Mà gia đình là trường học đầu tiên giáo dục con người và cung cấp cho con người kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, làm nền tảng cho sự đóng góp của con người vào thiện hảo xã hội sau này.

Sau cùng, gia đình chẳng những có vai trò xã hội, mà còn có vai trò chính trị nữa, nghĩa là gia đình là nhng k đu tiên phi làm sao đ các lut l và cơ chế ca nhà nước không nhng không làm tn thương các quyn li và bn phn ca gia đình, nhưng còn nâng đ bo v chúng mt cách tích cc (THGĐ 44 ).

2. Đng lc đ tr thành ngun phát sinh thin ho xã hi

Mô hình kiểu mẫu là cộng đoàn tín hữu đầu tiên trong Công vụ Tông đồ, trong đó mọi người yêu thương, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng nhau phụng sự Thiên Chúa: “Tt c các tín hu hp nht vi nhau và đ mi s làm ca chung. H đem bán đt đai ca ci, ly tin chia cho mi người tùy theo nhu cu.. (Cv 2,42.44- 47).

Ân sủng và trách nhiệm của gia đình Ki-tô hữu đem lại động lực và ý nghĩa mới cho gia đình Ki-tô hữu trong việc trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội. “Chính bí tích Hôn phi làm cho đôi bn và cha m Ki-tô hu có kh năng sng ơn gi Giáo Dân, và do đó có kh năng tìm kiếm Nước Thiên Chúa cách chính xác qua vic qun tr các thc ti trn thế mà h đang xếp đt theo ý Thiên Chúa (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội 31; THGĐ 47).

3. Gia đình Ki-tô hu phi làm gì?

Để trở thành “trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội”, trước tiên, gia đình phải có ý thc mnh m và sâu sc v vai trò và trách nhim xã hi và chính tr ca mình. Vai trò và trách nhiệm ấy, một đàng do chính Thiên Chúa đã trao cho gia đình khi đặt gia đình là nguồn gốc và nền tảng của xã hội, đàng khác được Giáo hội cậy nhờ vì không có gia đình, Giáo hội không thể thâm nhập vào môi trường đặc biệt này và làm cho xã hội trở thành Vương Quốc của Thiên Chúa được. Mỗi thành viên và cả gia đình phải tạo ý thức cho mình và cho nhau bằng việc lắng nghe Lời Chúa, học hỏi Giáo Lý và Giáo huấn xã hội của Giáo hội, quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh, nhất là của người nghèo.

Tiếp đến gia đình phải mỗi ngày một dấn thân hơn vào việc biến đổi và thăng tiến xã hội về mọi mặt. Gia đình đóng vai trò làm muối men và ánh sáng để xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian vậy. Vì vấn đề xã hội là của mọi người và vì những nỗ lực cá nhân không thể đem lại kết quả mong muốn, nên gia đình Ki-tô hữu phải liên kết với các gia đình khác – lương cũng như giáo – và với các tổ chức xã hội có mục đích bênh vực quyền con người và phát triển xã hội để tạo nên sức mạnh cần thiết.

Còn phải nhấn mạnh đến bn phn ca cha m Ki-tô hu trong việc giáo dục con cái về vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của mình, về ý thức công dân và những nhân đức xã hội theo tinh thần Ki-tô giáo. Trong môi trường cơ bản này, con cái phải được giáo dục tập luyện:

Yêu và tôn trng s tht trong tư tưởng, lời nói và hành động. Sự thật về mình, về tha nhân, về tập thể.

Gi công bình: công bình giữa anh chị em trong gia đình với các bạn đồng tuổi. Công băng đối với danh tiếng, của cải và bản thân của mọi người cũng như của xã hội. Công bằng trong sự đóng góp, trao đổi và phân phối. Tôn trọng tài sản chung của xã hội, không tham ô nhũng lạm.

Lòng yêu thương: yêu người thân cận,người đồng hương, đồng bào, yêu đất nước quê hương và sẵn sàng chu toàn nghĩa vụ chính đáng của người công dân.

Yêu quý t do: không để mình nô lệ, nhất là nô lệ tính xấu, đam mê, dục vọng, của cải tiền bạc, quyền lực…

4. Tuân gi các lut đo và đi

Bước theo Đức Kitô là tuân giữ các lệnh truyền của Ngài (Mt 19,16-19), được chưa đựng trong Thập điều như bản tóm lược Lề luật của Thiên Chúa. Lệnh truyền đó cho ta biết những bổn phận căn bản của con người đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân, mạc khải cho ta trong nội dung cốt yếu những nghĩa vụ quan trọng như bảo vệ và tôn trọng mạng sống, tôn trọng sự chồng vợ tận hiến cho nhau vĩnh viễn, bổn phận sinh và giáo dục con cái. Sống đức tin là đáp trả tình yêu, là tri ân, tôn kính và cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa trong lịch sử.

Chúa Giêsu đã ban điều răn mới là Yêu Chúa và yêu người, tóm kết mọi giới răn, như dấu chỉ của người môn đệ Đức Giêsu và như tiêu chuẩn phán xét cánh chung.

Cha mẹ có bổn phận dạy dỗ con cái các giới luật đạo và đời, bằng chính họ biết triển khai và áp dụng những đòi hỏi của từng giới răn mỗi khi có dịp và cơ hội trong đòi sống gia đình và xã hội. 

V. GIA ĐÌNH CHUYN TRAO ĐC TIN 

Gia đình là môi trường đầu tiên và chính yếu để chuyển giao đức tin. Đây là chủ đề cho cuộc gặp gỡ quốc tế các gia đình Kitô hữu lần thứ V tại Valencia năm 2006. Thiên Chúa đã mạc khải tình yêu mầu nhiệm của Người bằng cách ban cho nhân loại Con Một là Đức Giêsu Kitô làm Đấng cứu độ qua mầu nhiệm Tử nạn, Phục sinh, Ngài lên trời và ban Thánh Thần cho chúng ta. Mạc khải này được Đức Kitô trao phó cho Hội thánh cùng với Chúa Thánh Thần. Hội thánh luôn được Thánh Thần trợ lực để loan báo mạc khải này cho hết mọi người trong mọi thời đại. Đây là sứ mệnh của Hội thánh, cũng là sứ mệnh của mỗi Kitô hữu vì đã được trở nên chi thể của Đức Kitô và phần tử của Hội thánh nhờ bí tích Rửa tội. Khi mạc khải được thông truyền hữu hiệu và được đón nhận đúng mức sẽ phát sinh hoán cải và đức tin nơi người đón nhận.

Mỗi gia đình kitô hữu, qua bí tích hôn nhân, là một Hội thánh tại gia, có bổn phận tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng. Khi sinh ra con cái, đương nhiên các vợ chồng Kitô hữu là những người có trách nhiệm chính yếu phải thông truyền trước tiên cho con cái đức tin mà chính họ tuyên xưng. Chứng tá đời sống đóng vai trò quyết định trong việc chuyển giao đức tin. Vì thế, cha mẹ là những chứng tá mẫu mực cho con cái về đời sống Tin-Cậy-Mến. Gia đình cần phải cộng tác chặt chẽ với giáo xứ trong việc dạy giáo lý cho con cái bằng việc đôn đốc, tạo điều kiện, giải thích thêm và dạy giáo lý tại gia, nhờ đó việc chuyển giao đức tin được hữu hiệu và trọn vẹn. Phải gầy tạo một bầu khí thánh thiện, đầm ấm, an vui, lành mạnh trong gia đình. Tôm cá được nuôi trong hồ, dù được cho ăn đầy đủ, nhưng nếu nước bẩn, nhiễm trùng, cũng sẽ giết chết chúng dễ dàng.

Việc chuyển giao đức tin còn là trách nhiệm của mọi thành viên trong gia đình, họ hàng, dòng tộc đối với nhau, kể cả chiều ngược lại: con cái đối với cha mẹ, anh chị em đối với nhau.

Ngoài ra, gia đình còn có bổn phận loan báo Tin mừng cho những gia đình chưa biết Chúa, hoặc tái loan Tin mừng cho những gia đình yếu kém hoặc đã mất đức tin.

1. Hip nht Yêu thương Phc v theo nguyên mu Thiên Chúa Ba Ngôi

Mầu nhiệm Ba Ngôi là trung tâm các mầu nhiệm đức tin, và cũng ở ngay trung tâm của gia đình kitô hữu. Các bậc cha mẹ truyền đạt chân lý đức tin chính yếu này tuỳ theo mức độ họ thể hiện được chân lý này trong đời sống gia đình.

Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể làm cho ta hiểu đích xác và đầy đủ về Người, và Người đã đích thân mạc khải cho biết Người là Cha, Con và Thánh Thần. Nhờ đức tin, Người ban cho ta được tham dự vào đời sống của Người ngay khi ta còn ở nơi trần gian, tuy chỉ ở mức độ còn giới hạn. Nhờ mạc khải, ta tuyên xưng Chúa Cha từ đời đời sinh ra Con, Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra và là Tình yêu vĩnh cửu giữa Chúa Cha và Chúa Con, Ba Ngôi đều vĩnh cửu và bằng nhau, Ba Ngôi có chung một sự sống và chung hưởng trọn vẹn hạnh phúc bên nhau.

Thiên Chúa muốn tất cả chúng ta tham dự theo tư cách là con vào mối hiệp thông yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Cũng như Cha, Con và Thánh Thần hằng hiệp nhất với nhau, con cái Thiên Chúa cũng phải hiệp nhất với nhau trong chân lý và đức ái. Con người không thể đạt tới viên mãn nều không biết hiến thân cho nhau. Sự tự hiến, hiệp nhất và sống yêu thương như Thiên Chúa Ba Ngôi làm cho gia đình nên hoàn thiện. Hôn nhân đòi hỏi vợ chồng tận hiến cho nhau, cha mẹ tận hiến cho con cái và do đó phản ánh sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi.

2. Đc Giêsu Kitô là trng tâm đc tin công giáo

Đức Giêsu Kitô là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Trong Ngài, nhờ Ngài và với Ngài mà muôn vật trên trời dưới đất được tạo thành. Nhờ Ngài mà muôn vật được hòa giải với Thiên Chúa và được hưởng bình an nhờ hy tế thập giá của Ngài (Cl 1,15-20). Do quyền năng Chúa Thánh Thần, Ngài đã làm người trong lòng Đức Trinh nữ Maria, làm cho ta nhận biết Chúa Cha qua lời giảng dạy cũng như bản thân Ngài. Ngài dạy ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương ta đến tận cùng. Ngài dạy ta bát phúc như con đường tiến vào gia đình của Thiên Chúa. Ngài chịu khổ hình, mai táng và sống lại nhờ đó ta được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. Ngài lên trời và sẽ từ trời Quang lâm vinh hiển để phán xét cánh chưng tuỳ theo công trạng mỗi người. Và Nước Ngài sẽ vô tận. Ngài là trung tâm của lịch sử và của đời sống mỗi người, là Đấng cứu độ duy nhất và phổ quát.

Biết được Chúa Giêsu nhờ gặp Lời Ngài khi nghe đọc và tham dự các bí tích trong Hội thánh, nhất là thánh lễ, và khi dấn thân phục vụ những người nghèo hèn bé nhỏ. Do đó, việc cầu nguyện gia đình, việc dâng thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, việc phục vụ bác ái là những thành phần chủ yếu của việc chuyển trao đức tin về Chúa Giêsu.

3. Chúa Thánh Thn và Hi thánh Công giáo

Chúa Thánh Thần hoạt động trong Chúa Giêsu từ khi Ngài được chịu thai trong lòng Đức Trinh nữ Maria cho đến khi Ngài chết và sống lại. Khi công việc cứu chuộc đã được hoàn tất, Chúa Cha cử Thánh Thần đến thánh hóa các tín hữu và đưa họ đến cùng Cha nhờ Đức Kitô.

Chúa Thánh Thần hằng ở cùng Hội thánh để canh tân, hướng dẫn Hội thánh bằng những ân sủng đa dạng. Chúa Thánh Thần ngự trong tâm hồn tín hữu, hoạt động nơi tín hữu và chứng thực họ là nghĩa tử của Chúa Cha. Chúa Thánh Thần đưa Hội thánh đến chân lý trọn vẹn, làm tươi trẻ Hội thánh bằng sức mạnh của Tin mừng. Toàn thể Hội thánh là một dân tộc được quy tụ bởi sự hiệp nnhất của Ba Ngôi, sống trong phẩm giá và tự do của con cái Thiên Chúa, tuân giữ giới luật là yêu thương, nhắm đến cùng đích là làm cho Nước Chúa rộng lan. Chúa Thánh Thần nâng đỡ con người yếu hèn chúng ta, chuyển cầu cho ta, ban ơn khơi dậy đức tin nơi ta, hoán cải tâm hồn và gắn bó với Chúa Kitô.

Cha mẹ thông truyền đức tin cho con cái trong Chúa Thánh Thần ngay từ khi khởi đầu hiện hữu của con cái khi cha mẹ sống theo sự soi dẫn của Thanh Thần. Khi con cái khôn lớn, cha mẹ giải thích đầy đủ và giúp chúng gắn bó với đức tin. Chúa Thánh Thần sẽ tác động và giúp làm công việc này.

4. Các Bí tích

Các bí tích làm cho những biến cố lớn lao sinh ơn cứu độ của Đức Kitô được tái diễn và tác động, nhờ đó ta được giao hòa với Thiên Chúa và tham dự vào đời sống của Người. Bí tích Rửa tội tái sinh làm con Chúa và gia nhập gia đình của Chúa. Thêm sức làm ta gắn bó với Đức Kitô, chứng nhân cho Ngài và Hội thánh được củng cố. Thánh Thể cho ta liên kết với Đức Kitô và làm cho Hội thánh được nên trọn vẹn. Hòa giải chữa lành mọi thương tích và phục hồi sự hiệp thông bị gián đoạn do tội lỗi. Xức dầu làm cho những đau khổ của ta mang ý nghĩa cứu chuộc. Hôn phối làm cho tinh yêu đôi bạn được thánh hóa và biến họ nên dâu chỉ kết hiệp giữa  Chúa Kitô và Hội thánh. Bí tích truyền chức làm cho các thụ nhân được thánh hiến và trở thành thừa tác viên của Đức Kitô để lo việc giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn Dân Chúa.

Cha mẹ có nhiệm vụ quan trọng là giải thích đầy đủ cho con cái về từng bí tích và giúp chúng lãnh nhận các bí tích này. Lãnh nhận mà thôi chưa đủ mà còn sống các bí tích để được thấm nhuần ơn Chúa. Cha mẹ còn phải hướng dẫn cho con cái quyết định chọn bậc sống hợp ý Chúa và tôn trọng chọn lựa của chúng.

Đặc biệt, ngày Chúa nhật cần được làm nổi bật như ngày của đức tin: Đó là ngày Đức Kitô phục sinh khởi nguồn lịch sử nhân loại mới, là quà tặng của Chúa Thánh Thần. Tham dự thánh lễ Chúa nhật là bổn phận của mọi tín hữu, vừa là luật buộc vừa là đòi hỏi của đời sống kitô hữu, nói lên căn tính Kitô hữu. Nhờ quy tụ với nhau ngày Chúa nhật như gia đình của Chúa quanh bàn ăn là Lời và Bánh sự sống, thánh lễ Chúa nhật còn tạo nên sự hiệp nhất, nuôi dưỡng và bảo vệ sự hiệp thông cộng đoàn. Do đó cha mẹ và con cái lo lắng đi lễ chúa nhật như thành phần chủ yếu của lòng đạo đức. Tham dự tích cực thánh lễ, rước lễ, nghe lời Chúa, hiệp thông với cộng đoàn… sẽ thúc đẩy chiều kích đức ái Kitô giáo và sự quan tâm đến những người nghèo. 

VI. ĐIU RĂN IV : THO KÍNH CHA M 

“Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, để ngươi được sống lâu và được hạnh phúc trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi sẽ ban cho ngươi” (Đnl 5,16).

Điều răn đề cập đến :

– Gia đình và mối dây liên kết nội tại trong gia đình,

–   Xã hội và các bổn phận của mọi phần tử trong xã hội. 

1. Gia đình trong kế hoch ca Thiên Chúa

Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, đã thiết lập hôn nhân và gia đình với những định chế cơ bản cho gia đình : đơn hôn và bất khả ly. Chúa Giêsu đã lặp lại những gi trị căn bản này (Mc 10 : việc ly dị).

a. Gia đình được xây dựng trên khế ước hôn nhân, qua đó đôi vợ chồng, một nam một nữ, tự do chấp nhận lẫn nhau bằng tình yêu bền vững, nhằm lợi ích của chính họ cũng như để sinh sản và giáo dục con cái. Vì thế,

–  Gia đình là cộng đoàn yêu thương giữa các nhân vị (cha mẹ và con cái). Nhờ tình yêu mà mỗi người được nhìn nhận và tôn trọng theo đúng phẩm giá của mình. Vì thế gia đình là cộng đoàn sự sống và tình yêu.

–  Gia đình là môi trường giaó dục đầu tiên để phát triển trí tuệ và đạo đức, hình thành nhân cách.

–  Gia đình là đơn vị kinh tế đầu tiên của xã hội, trong đó mỗi người biết ý nghĩa lao động, biết cách chon nghề đúng đắn, mỗi người góp phần xạy dựng đời sống kinh tế và phát triển gia đình hầu đem lại ấm no hạnh phúc. Nhờ kinh tế, con cái được học hành và được giaó dục đầy đủ, mở mang kiến thức, trau dồi văn hóa, luyện tập các đức tính nhân bản, để góp phần xây dựng xã hội cả kinh tế lẫn văn hóa và tinh thần.

–  Gia đình là tế bào của xã hội. Tương lai của nhân loại phải ngang qua gia đình.

b. Gia đình kitô giáo phản ảnh mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi : hiệp thông nhân vị là dấu chỉ và hình ảnh sự hiệp thơng của Cha Ba Ngôi. Vì vậy gia đình Kitô được mời gọi sống tính yêu Ba Ngôi. Gia đình Kitô giáo bày tỏ và thể hiện cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội thánh, vì lẽ đó mà gia đình được gọi là Hội thánh tại gia. Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân viết như sau : Chính gia đình nhận từ Thiên Chúa Cha sứ mệnh trở nên tế bào đầu tiên và sống động của xã hội. Gia đình sẽ chu toàn được sứ mệnh đó nếu gia đình tỏ ra như một đền thờ của Hội thánh trong nhà mình nhờ yêu thương nhau và cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa, cùng tham dự vào việc phụng vụ của Hội thánh, sau cùng nếu gia đình tỏ ra hiếu khách và cổ võ đức công bằng cũng như các việc thiện khác giúp anh em đang túng thiếu (TĐGD 11).

 2. Gia đình và xã hi

– Gia đình là nền tảng của xã hội và không ngừng nuôi dưỡng xã hội bằng việc phục vụ cho sự sống. Chính từ gia đình mà những công dân được sinh ra, được học tập những đức tính xã hội (phục vụ, đối thoại, liên đới, hiệp thông, công bằng…) khiến xã hội có thể sống và phát triển.

– Gia đình là nơi đầu tiên và dụng cụ hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và nhân vị hóa xã hội, bằng cách cộng tác cách độc đáo và sâu đậm vào việc xây dựng xã hội, góp phần vào việc bảo tồn và lưu truyền các đức tính và gía trị đạo đức.

– Xã hội có bổn phận tôn trọng, nâng đỡ, củng cố, thăng tiến hôn nhân và gia đình. Gia đình phải được xã hội bảo vệ và hỗ trợ cần thiết để có thể chu toàn các trách nhiệm của mình. Gia đình cần được xã hội bảo vệ những quyền lợi căn bản : quyền tự do lập gia đình, quyền sinh con cái và giaó dục con cái, quyền tự do tín ngưỡng và giáo dục đức tin cho con cái, quyền tư hữu, tự do làm việc, có việc làm, tự do đi lại, được chăm sóc ý tế, trợ cấp tuổi già, bảo vệ an ninh tránh mọi nguy cơ (xì ke, ma túy, dâm ô, đồi trụy), tự do liên kết với các gia đình khác để lập hội đoàn… 

3. Bn phn ca các phn t trong gia đình

a. Con cái với cha mẹ, khi sống cũng như khi đã qua đời: Đạo hiếu là gốc đức hạnh của con người.

–  Hiếu thảo (Hc 3,3-6.8-9.14-16).

–  Yêu mến và biết ơn (Hc 7,27-28)

–  Tôn kính (Hc 7,27-28)

–  Vâng phục (Cn 4,4); Cn 6,20-23; Đnl 21,18-21. Tân ước : CG hằng vâng phục cha mẹ (Lc 2,51), Ep 6,1; Cl 3,20.

b. Anh chị em với nhau : tình huynh đệ ruột thịt (chị ng em nâng – giọt máu đào hơn ao nước l). Cain giết Abel. Esau xung đột Giacóp. Giuse bị các anh em ghen tị…

c. Cha mẹ với con cái : Yêu thương – nuôi dưỡng chăn sóc – Giáo dục về mọi lãnh vực (nhân bản, đức dục, trí tuệ, đức tin).

d. Vợ chồng đối với nhau: Yêu thương chung thủy – bất khả ly. Hòa hợp tâm hồn và thân xác. Hòa thuận –  Giúp đỡ lẫn nhau – Có trách nhiệm với nhau

e. Bổn phận của chủ nhà – gia nhân, thầy – trò, các thành viên trong gia tộc. 

4. Bn phn ca các phn t trong xã hi

a. Bổn phận của chính quyền : bảo đảm an ninh trật tự, đời sống kinh tế, x hội an sinh, chăm lo các giá trị văn hóa, đạo đức

b. Bổn phận của công dân đối với đất nước : lòng yêu nước, góp phần vào phục vụ công ích, nộp thuế, đảm nhận những nhiệm vụ xây dựng đất nước theo tinh thần Tin mừng.

c. Bổn phận đối với chính quyền : kính trọng, tuân phục, tuân giữ luật pháp nhưng khi có những luật nghịch với các đòi hỏi luân lý và nhất là Luật Cha, thì không thể tuân hành.

Lm GB.Hoàng Văn Khanh

Comments are closed.