“Ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha?” – Suy niệm Chúa Nhật X TN, Năm B

0

“Ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha?”

I. LỜI CHÚA: Mc 3, 20-30

20 Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được. 21 Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí.

22 Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám và Người dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ. 23 Người liền gọi họ đến, dùng dụ ngôn mà nói với họ: “Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được? 24 Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền;25 nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững.26 Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số.27 Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó.

28 “Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha.29 Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời”.30 Đó là vì họ đã nói “ông ấy bị thần ô uế ám.”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

Sau khi Đức Giê-su “lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3, 14-15), Người trở về nhà và có ba nhóm người kéo đến:

  • Trước hết là đám đông: “Đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được” (c. 20)
  • Sau đó, có thân nhân của Người: “Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí” (c. 21)
  • Ngoài ra, còn có các kinh sư: “Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám và Người dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ”.

Với những gì bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô của Thánh Lễ Chúa Nhật, chúng ta được mời gọi chú ý đến nhiều nhóm người khác nhau kéo đến với Đức Giê-su. Họ nói Người là ai? Còn tôi, tôi nói Người là ai?

 1. Phục vụ cho sự sống

Đám đông kéo đến với Đức Giê-su, vì nghe biết những gì Người đã làm: Người đã chữa lành người bại tay trong hội đường vào ngày sa-bát (Mc 3, 1-6); sau đó, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân khác (c. 10); Người trừ quỉ và thiết lập Nhóm Mười Hai, để “các ông ở với Người và để sai các ông đi rao giảng với quyền trừ quỉ” (c. 11 và c. 14-15).

Đám đông kéo đến, khi Người trở về nhà. Mặc dù thánh sử Mác-cô không kể ra những gì Đức Giê-su làm cho họ, nhưng chúng ta có thể đoán ra rằng: Người tiếp tục chữa lành các bệnh nhân và giải thoát những người bị quỉ ám. Chính vì thế mà Người và các môn đệ không có giờ để ăn uống và bị người thân và các kinh sư phản ứng.

Để hiểu phản ứng của họ, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Đức Giê-su phục vụ cho sự sống của con người, và Người phục vụ ở cả hai chiều kích của sự sống: chiều kích thể lý (chữa lành bệnh tật) và chiều kích tương quan (giải thoát con người khỏi sự thống trị của ma quỉ). Chúng ta thường bị ấn tượng và ưa thích những phép lạ chữa bệnh, vì bệnh tật làm cho con người khốn khổ. Tuy nhiên, bệnh tật lại thuộc về thân phận con người, đã là người thì phải trải qua, không tránh được: sinh lão bệnh tử. Nhưng sự sống của con người còn bị quấy phá, bị chi phối bởi ma quỉ, bởi thần dữ; và tình trạng này mới là bi đát, trong mức độ ma quỉ gieo vào lòng con người và vào tương quan giữa người với người sự nghi ngờ, loại trừ, bạo lực, ham muốn, ghen tị, dục vọng… Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những sự dữ này còn phá hoại sự sống của chúng ta hơn cả bệnh tật.

Tuy nhiên, nghe nói hay chứng kiến những gì Đức Giê-su thực hiện như thế, người ta không có cùng một cái nhìn.

2. “Người đã mất trí”?

Thực vậy, Đức Giê-su phục vụ cho sự sống của con người bằng hành động chữa bệnh và trừ quỉ. Nhưng tại sao người thân của Người lại cho rằng Người mất trí và muốn bắt Người về?

Đó là vì Người không trở nên điều mà họ mong chờ: trở nên luật sĩ hay kinh sư thay vì ngôn sứ loan báo Lời Thiên Chúa; vì Người không đi con đường họ muốn: dành và nắm quyền bính thay vì phục vụ, như sau này chính ông Phê-rô, đứng đầu Nhóm Mười Hai, cũng sẽ không chấp nhận con đường phục vụ đến cùng của Người (x. Mc 8, 32); hay đơn giản là vì Người đã không ưu tiên phục vụ cho họ (x. Lc 4, 23). Vì thế họ muốn “bắt Người” để gây áp lực, thậm chí làm chủ, sử dụng và buộc người làm theo ý họ.

Nhưng “người thân của Người” là ai? Hiển nhiên là anh chị em họ hàng hay làng xóm của Người (x. Mc 3, 31). Nhưng, chúng ta có thể hiểu theo nghĩa rộng, là loài người chúng ta và từng người chúng ta, như thánh sử Gioan nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11). Loài người và chúng ta hôm nay nữa ở mức độ nào đó, cũng không hiểu biết, yêu mến và đón nhận Người.

Vì thế, những gì xẩy ra ở đây, tại quê hương và trong “nhà của Người” đã loan báo tầm mức phổ quát của mầu nhiệm Thập Giá rồi: Thập Giá dưới mắt loài người là “điên rồ và sỉ nhục”, nhưng với những ai được tuyển chọn, đó lại là “sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1, 22-14), bởi vì đó là lúc Người bày tỏ “chân dung rạng ngời” của Thiên Chúa Cha, qua việc phục vụ cho sự sống của loài người chúng ta đến cùng và triệt để nhất; đó là mang lại cho chúng ta sự sống của Thiên Chúa, không chỉ ở đời sau, nhưng ngay hôm nay, khi giải thoát sự sống của chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì liên quan đến Sự Dữ. Bởi lẽ, chỉ có Lời Chúa, và tuyệt đỉnh là “Lời Thập Giá” (1Cr 1, 18) mới có thể chữa lành, giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ.

*  *  *

Tuy nhiên, Đức Giê-su còn có một “Người Thân” khác nữa, đó là Đức Maria, Mẹ của Người. Mẹ của Người cũng sẽ đi tìm Người (x. Mc 3, 31-35; là bài Tin Mừng của thứ ba tuần tới, sau Chúa Nhật III Thường Niên), nhưng không phải để bắt Người, nhưng để đi theo Người cách khiêm tốn như người môn đệ, và nhất là để trở thành người thân đích thật của Người, qua việc chăm chú lắng nghe và sống Lời Thiên Chúa, để nhận ra “sức mạnh và khôn ngoan” của mầu mhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô và trở thành Người Mẹ trong Gia Đình Mới của Người.

Xin cho chúng ta lắng nghe, yêu mến, đón nhận và đi theo Đức Giê-su đến cùng, đến tận chân Thập Giá, như Đức Maria, Mẹ của Người và cũng là Mẹ của chúng ta.

 3. “Người dựa thế quỷ vương”?

Phần 2 (c. 22-27) và phần 3 (c. 28-30) của bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay khởi đầu và kết thúc với lời nói của các kinh sư, cho rằng Đức Giê-su bị Quỉ Vương Bê-en-dê-bun ám:

Còn các kinh sư từ Giê-ru-sa-lem xuống thì lại nói rằng Người bị quỷ vương Bê-en-dê-bun ám.(c. 22)

Đó là vì họ đã nói: “ông ấy bị thần ô uế ám”.(c. 30)

Ở phần trung tâm của bài Tin Mừng (c. 23-29), đó là lời của Đức Giê-su. Trước hết, bằng “ngôn ngữ dụ ngôn”, Người mời gọi các kinh sư hãy học biết “nhận định thiêng liêng”, nghĩa là phân biệt những gì thuộc về Thiên Chúa, nguồn của sự sống, ánh sáng và sự thiện và những gì thuộc về Satan, đó là sự chết, bóng tối và sự dữ:

Người liền gọi họ đến, dùng dụ ngôn mà nói với họ: “Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được? 24 Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền;25 nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững.26 Vậy Xa-tan mà chống Xa-tan, Xa-tan mà tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số.27 Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó. (c. 23-27)

Tiếp đến, Người mặc khải bản chất tội lỗi ở mức độ tuyệt đối được hàm chứa trong lời nói đồng hóa Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa với “Quỉ Vương”:

Tôi bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha.29 Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. (c. 28-29)

Đức Giê-su bắt đầu bằng cách dùng những hình ảnh “một nước” và “một nhà”, để cho thấy nhận định của họ không phù hợp qui luật của hiện hữu: ở mức độ cá thể hay tập thể, điều gì đã hiện hữu thì tự bản chất nó muốn hiện hữu dài lâu và nếu có thể hiện hữu mãi mãi; và để hiện hữu, hữu thể không thể tự chia rẽ, vì như thế sẽ dẫn đến hậu quả tự hủy diệt chính mình. Chính vì thế, ma quỉ (tiếng Hi-lạp là diabolos; tiếp đầu ngữ dia có nghĩa là chia rẽ), nghĩa là “Kẻ Tố Cáo” thường gieo rắc nộc độc chia rẽ bằng hành vi tố cáo, để hủy diệt sự sống của con người[1]. Những người tự biến mình thành tay sai của Satan, hay bị Satan chi phối mà không ý thức, cũng hành động như thế.

Sau đó, ngang một dụ ngôn thật nhỏ, nhưng rất “xấu” (tương tự như dụ ngôn người quản lí bất lương): “Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” (c. 27), Đức Giê-su mời gọi người nghe nhận ra một mầu nhiệm thật lớn và thật đẹp, đó là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta (x. Mt 12, 28 và Lc 11, 20).

Triều Đại Thiên Chúa đã đến ngang qua lời nói, hành động và chính ngôi vị của Đức Giê-su, vì nếu Satan bị đẩy lùi và bị trừ khử, thì chỉ có thể là Thiên Chúa mà thôi, chỉ có thể là “Thần Khí của Thiên Chúa” (Mt 12, 28), chỉ có thể là “ngón tay của Thiên Chúa (Lc 11, 20). Hơn nữa, theo các Tin Mừng Nhất Lãm, ngôn ngữ dụ ngôn được Đức Giê-su ưu tiên dùng để nói về Nước Thiên Chúa, đến độ “dụ ngôn Tin Mừng” tự nó có nghĩa là Nước Thiên Chúa, và Đức Giê-su chính là một “Dụ Ngôn” nói cho chúng ta một cách hoàn hảo về Thiên Chúa và về Triều Đại của Người.

*  *  *

Sau đó, Đức Giê-su mặc khải tính nghiêm trọng tuyệt đối (nghĩa là không thể tha thứ) của tội nói phạm đến Thánh Thần. Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều kể lại lời của Đức Giê-su, nói về điều này (Mt 12, 31-32; Lc 12, 10), nhưng Tin Mừng theo thánh Mác-cô xác định rõ nhất lí do tại sao: “Đó là vì họ đã nói ông ấy bị thần ô uế ám”.

Nơi Đức Giê-su, Thánh Thần hiện diện cách trọn vẹn (x. Mc 1, 12), vì Người là Con Thiên Chúa. Do đó, lời nói cho rằng Đức Giê-su bị ám bởi Quỉ Vương, ẩn chứa tội phạm đến Thánh Thần, mà chính người nói cũng không biết, như lời Tv 19 diễn tả: “Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình? Xin Ngài tha các tội con phạm mà chẳng hay” (Tv 19, 23); và chính Đức Giê-su mặc khải trong cuộc Thương Khó: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Bởi lẽ ai có thể nói phạm đến Đấng tuyệt đối, ngoài một “tuyệt đối” khác, đúng hơn một “cực điểm” khác là Satan? Tương tự như trong mầu nhiệm Thương Khó, tương ứng với khuôn mặt của Sự Thiện tuyệt đối, rạng ngời nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh, chính là Sự Dữ, bị buộc phải lộ ra nguyên hình, khởi đi từ hành động của những con người cụ thể.

*  *  *

Như thế, lời của Đức Giê-su về tội phạm đến Thánh Thần vừa làm cho chúng ta bình an và vừa chất vấn chúng ta: Tôi không thể phạm đến Thánh Thần được, nhưng tôi có thể để cho Sự Dữ hoạt động ở trong tôi, nói ở trong tôi, làm xúc phạm đến Thánh Thần. Chỉ có Đức Giê-su, Đấng tràn đầy Thánh Thần, Lời và Mình Máu Thánh của Người, mới giải thoát tôi khỏi Sự Dữ và tái sinh tôi trong Thánh Thần của Người mà thôi.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

[1] Chúng ta có thể đọc St 3, 1-7; Ds 21, 4-9; Ga 3, 17-19 và Kh 12, 9-10. Hình ảnh Con Rắn diễn tả Satan trong các bản văn Kinh Thánh này. Và trong thư của thánh Pha-lô gởi tín hữu Roma (Rm 7, 7-13), “Tội” được nói tới như là một nhân vật, và cách hành động của Tội, theo thánh Phao-lô, hoàn toàn phù hợp với cách hành động của Con Rắn.

Comments are closed.