
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương
Theo the Word Among us
| Other-centered, constantly changing life.
In Christian tradition, a vocation is a way of living rooted in the understanding that the Lord has gifted us with talents that we are to put in service to his kingdom. Consider St. Paul’s reflection on the various vocations within the Church: As a body is one though it has many parts, and all the parts of the body, though many, are one body, so also Christ. … Some people God has designated in the church to be, first, apostles; second, prophets; third, teachers; then, mighty deeds; then, gifts of healing, assistance, administration, and varieties of tongues. … Strive eagerly for the greatest spiritual gifts. (1 Corinthians 12:12, 28, 31) Notice the way that Paul points to the different manifestations of God’s gifts, all of which work together to build up Christ’s body. In the same chapter, he critiques attitudes that diminish the importance of some gifts: “The eye cannot say to the hand, ‘I do not need you’” (1 Corinthians 12:21). The law of the Church, he suggests, is complementarity. What we see in contemporary society, on the contrary, is often a law of competition, and one that has unfairly impacted women. If a vocation is a living expression of fidelity to the God who has given us the gifts of our very selves, then there are as many vocations as there are people. Traditionally, the word “vocation” has referred to a particular form of lived discipleship: specifically, a particular form of the celibate, vowed life of nuns, priests, monks, or brothers. But the vocation to family life is another form of religious life, rooted in vows before God that call us to consecrate our families toward God’s unfolding project in the world. The call to marriage represents, in the life of the Church, a call to partnership with another person whose complementary gifts offer children perspective on what it means to be a human being formed in the image of God. In recent decades, with changing attitudes toward marriage, we can understand this approach to marriage in sharper contrast. Gone are the days when the path to marriage was practically a foregone conclusion, with “spinsters” or “bachelor uncles” being the anomaly. Today the choice to undertake a sacramental marriage must be more deliberate. For while fewer Catholics are getting married or staying married in the Church, those that do are more likely to give serious thought to what God desires from this form of vowed life. In the Rite of Marriage, husbands and wives vow to “accept children lovingly from God and bring them up according to the law of Christ and his Church” and to be faithful to each other “for better, for worse, for richer, for poorer, in sickness and in health, until death do us part.” The language of these vows is sacred, enjoining couples to consider family life as ordained by God and as part of his unfolding plan for the welfare of all people. Historically, the vocation to family was understood to flow out of the vocation to married life. For many, that connection is still a lived reality, but for others, as we’ve noted, the reality is different. In all cases, though, the vocation to family means a readiness to understand that one’s happiness is intimately tied up in the happiness of others in the family. Work, no matter which model one embraces, cannot be an exclusive good in itself. It must also be an instrumental good, in providing a means by which one provides for the family. Even in cases when one does work for the enjoyment of it – let’s imagine a case of someone who is wealthy and need not work – the call to work still fulfills emotional, creative, or social needs that spill over into one’s family life. Family life is an other-centered vocation, constantly changing because children are always growing. And their growth means that even from one year to the next, the texture of life undergoes great change. In our experience, raising children is an invitation to an often profoundly meditative way of being-in-time. Whereas the workday ticks by with predictable regularity, punctuated by meetings, tasks, and to-do lists, family life exists in a different kind of time. Especially when our kids were younger, it felt as if we had to take off the workday world’s approach to time as if it were an overcoat and enter a new world with them. Fredrick Buechner puts it beautifully: For a child, time in the sense of something to measure and keep track of, time as the great circus parade of past, present, and future, cause and effect, has scarcely started yet and means little because for a child all time is by and large now time and apparently endless. What child, while summer is happening, bothers to think much that summer will end? What child, when snow is on the ground, stops to remember that not long ago the ground was snowless? It is by its content rather than its duration that a child knows time, by its quality rather than its quantity – happy times and sad times. (The Sacred Journey) Buechner puts his finger on one of the great gifts of the family vocation: God’s invitation to dwell within his time in a way reminiscent of our own childhoods. It is very easy – and always tempting – to treat time as a commodity when we are busy. Even now, as we write this, we have one eye on the clock for the next item on the day’s to-do list. In a busy life, scheduling happens because of the desire to accomplish many things – many good things -especially when they have to do with cultivating important relationships. (In the coming hours, for example, we are looking forward to spending some one-on-one time with our children.) Yet even in the midst of these demands, it is possible to discern God’s voice saying, in effect, the words of Jesus to the disciples when they found themselves getting too busy: “Come away by yourselves to a deserted place and rest a while.” The Evangelist Mark describes the scene: “People were coming and going in great numbers, and they had no opportunity even to eat” (6:31). Jesus’ invitation to rest comes after he has sent the disciples off to preach in various villages and towns in the vicinity: he has, in a word, commissioned them. As parents, we too have been commissioned: that is, “co-missioned,” sent with God’s Holy Spirit to do the works of mercy in our families. Yet even in the midst of this vocation, Jesus calls to us to rest a while: to dwell in that sacred time away from the constantly ticking clock of our adult lives. Tim and Sue Muldoon are the parents of three children and the authors of several books on marriage and family. |
Đời sống luôn hướng đến tha nhân và không ngừng thay đổi.
Theo truyền thống Kitô giáo, ơn gọi là cách sống bắt nguồn từ niềm xác tín rằng Thiên Chúa đã ban cho chúng ta những tài năng, những ân huệ mà chúng ta phải dùng để phục vụ vương quốc của Người. Hãy xem xét suy gẫm của Thánh Phaolô về những ơn gọi khác nhau trong Giáo Hội: “Như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. … Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. … Anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất.” (1 Cr 12, 12.28.31) Bạn hãy lưu ý cách Thánh Phaolô chỉ ra những cách thức khác nhau mà các ơn ban của Thiên Chúa được biểu lộ, tất cả đều cùng cộng tác để xây dựng Thân Thể Đức Kitô. Trong cùng chương đó, ngài chỉ trích những thái độ coi nhẹ tầm quan trọng của một số ơn ban: “Mắt không thể nói với tay: ‘Tôi không cần đến anh’” (1 Cr 12,21). Thánh nhân cho thấy rằng nguyên tắc của Giáo Hội là sự bổ trợ cho nhau. Trái lại, những gì chúng ta thấy trong xã hội hiện đại thường là nguyên tắc cạnh tranh, một nguyên tắc đã gây ảnh hưởng bất công đến phụ nữ. Nếu ơn gọi là một sự diễn tả sống động về sự trung tín với Thiên Chúa, Đấng đã ban cho chúng ta những ơn huệ làm nên con người mình, thì có bao nhiêu người có bấy nhiêu ơn gọi. Theo truyền thống, từ “ơn gọi” có liên quan đến một hình thức cụ thể của đời sống môn đệ: một hình thức đặc thù của đời sống độc thân, đời sống theo lời khấn của các nữ tu, các linh mục, các đan sĩ hoặc các tu huynh. Nhưng ơn gọi của đời sống gia đình là một hình thức khác của đời sống thánh hiến, được đặt nền trên những cam kết trước mặt Thiên Chúa, mời chúng ta dâng hiến gia đình mình cho kế hoạch của Thiên Chúa đang mở ra trong thế giới này. Trong đời sống Giáo Hội, ơn gọi hôn nhân là lời mời gọi cộng tác với một người khác, người có những ơn ban bổ trợ cho nhau, giúp con cái có được một cái nhìn sâu sắc hơn về ý nghĩa của việc con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Trong những thập niên gần đây, khi những quan niệm về hôn nhân đang thay đổi, chúng ta càng có thể thấy rõ hơn cách nhìn này về hôn nhân. Thời mà việc kết hôn gần như là một điều mặc nhiên đã qua rồi, “những phụ nữ không kết hôn” hay “những người đàn ông độc thân” mới bị xem là trường hợp ngoại lệ hoặc bất thường. Ngày nay, việc lựa chọn bước vào một cuộc hôn nhân bí tích cần phải là một quyết định có ý thức và được cân nhắc chín chắn hơn. Bởi vì ngày càng có ít người Công giáo kết hôn hoặc duy trì hôn nhân trong Giáo Hội, nên những người vẫn chọn sống đời hôn nhân trong Giáo Hội có xu hướng suy nghĩ nghiêm túc hơn về điều Thiên Chúa mong muốn nơi hình thức đời sống được cam kết này. Trong Nghi thức Hôn phối, người chồng và người vợ thề hứa “đón nhận con cái với tình yêu thương như ân huệ Thiên Chúa ban, và giáo dục chúng theo luật Đức Kitô và Hội Thánh Người”, đồng thời thề hứa trung thành với nhau “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi giàu sang cũng như lúc nghèo khó, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, cho đến khi cái chết chia lìa đôi bên”. Ngôn ngữ của những lời thề hứa này mang tính thánh thiêng, mời gọi các đôi vợ chồng nhìn nhận đời sống gia đình như một thực tại do Thiên Chúa thiết lập và là một phần trong kế hoạch của Người đang được triển khai vì thiện ích của tất cả mọi người. Về mặt lịch sử, ơn gọi gia đình được hiểu là phát xuất từ ơn gọi sống đời hôn nhân. Đối với nhiều người, sự liên kết đó vẫn là một thực tại sống động, nhưng đối với những người khác, như chúng ta đã đề cập, thực tại lại khác hẳn. Trong tất cả mọi trường hợp, ơn gọi sống đời gia đình có nghĩa là sẵn sàng nhận ra rằng hạnh phúc của mỗi người gắn liền với hạnh phúc của những người khác trong gia đình. Công việc, bất kể mô hình nào được lựa chọn, không thể chỉ là một giá trị tự thân. Công việc cũng phải là một giá trị mang tính phương tiện, nhờ đó người ta có thể chu cấp cho gia đình. Ngay cả trong trường hợp một người làm việc vì niềm vui mà công việc mang lại – chẳng hạn một người giàu có và không cần phải làm việc – thì việc làm vẫn đáp ứng những nhu cầu về cảm xúc, sáng tạo hoặc xã hội, và những điều đó cũng lan tỏa sang đời sống gia đình của người ấy. Đời sống gia đình là một ơn gọi hướng đến người khác và không ngừng thay đổi vì con cái luôn lớn lên. Và con cái càng lớn lên, đời sống gia đình càng thay đổi; thậm chí chỉ qua mỗi năm, diện mạo, nhịp sống gia đình sẽ thay đổi rất nhiều. Theo kinh nghiệm của chúng ta, việc nuôi dạy con cái là một lời mời gọi bước vào một cách hiện hữu trong thời gian mang tính chiêm niệm sâu sắc. Trong khi ngày làm việc trôi qua theo một nhịp điệu đều đặn có thể dự đoán, được chia thành các cuộc họp, công việc và danh sách những việc cần làm, thì đời sống gia đình lại diễn ra theo một cách cảm nhận về thời gian hoàn toàn khác. Đặc biệt khi các con của chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi có cảm giác như thể phải cởi bỏ cách nhìn về thời gian của thế giới công việc như cởi một chiếc áo khoác, rồi cùng các con bước vào một thế giới mới. Fredrick Buechner diễn tả điều này thật đẹp: Đối với một đứa trẻ, thời gian theo nghĩa là một điều gì đó cần được đo lường và theo dõi; thời gian như một cuộc diễu hành kỳ thú của quá khứ, hiện tại và tương lai, của nguyên nhân và kết quả, hầu như chưa thực sự hình thành và chẳng có nhiều ý nghĩa, bởi vì đối với trẻ, hầu như mọi thời gian đều là thời gian hiện tại và dường như vô tận. Có đứa trẻ nào, khi mùa hè đang diễn ra, lại bận tâm nghĩ nhiều rằng mùa hè rồi sẽ kết thúc? Có đứa trẻ nào, khi tuyết đang phủ đầy mặt đất, lại dừng lại để nhớ rằng cách đây không lâu mặt đất vẫn chưa có tuyết? Trẻ em cảm nhận thời gian qua những gì đang diễn ra trong đó hơn là qua độ dài của nó, qua tính chất hơn là số lượng của nó – những khoảng thời gian vui và những khoảng thời gian buồn. (Hành trình thiêng liêng) Buechner đã chạm đến một trong những ân huệ lớn lao của ơn gọi gia đình: Lời mời gọi của Thiên Chúa là lưu lại để sống trong thời gian của Người, theo một cách gợi nhớ đến chính tuổi thơ của chúng ta. Khi bận rộn, chúng ta rất dễ dàng và luôn bị cám dỗ – dùng thời gian như thứ hàng hóa. Ngay cả bây giờ, khi đang viết những điều này, chúng tôi cũng đưa mắt nhìn đồng hồ cho danh mục tiếp theo trong danh sách những việc cần làm trong ngày. Trong một cuộc sống bận rộn, việc lên lịch làm việc xuất phát từ mong muốn hoàn thành nhiều việc – nhiều việc tốt đẹp – đặc biệt khi chúng liên quan đến việc nuôi dưỡng những mối tương quan quan trọng. (Chẳng hạn, trong những giờ sắp tới, chúng tôi đang mong đợi dành thời gian riêng tư với các con chúng tôi). Tuy nhiên, ngay cả giữa những đòi hỏi ấy, chúng ta vẫn có thể phân định tiếng của Thiên Chúa đang nói với mình, đại ý như những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ, khi họ thấy mình quá bận rộn: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”. Thánh sử Máccô mô tả cảnh: “Kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa” (Mc 6,31). Lời mời gọi nghỉ ngơi của Chúa Giêsu được đưa ra sau khi Người sai các môn đệ đi rao giảng ở nhiều làng mạc và thị trấn trong vùng lân cận: nói cách khác, Người đã trao cho họ sứ mệnh. Với tư cách là cha mẹ, chúng ta cũng được trao sứ mệnh: nghĩa là chúng ta được “cùng sai đi”, được sai đi với Chúa Thánh Thần để thực hiện những công việc của lòng thương xót trong gia đình chúng ta. Tuy nhiên ngay giữa ơn gọi này, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nghỉ ngơi một chút: sống trong thời gian thánh thiêng, tách mình khỏi tiếng đồng hồ không ngừng tích tắc của cuộc sống người lớn chúng ta. Tim và Sue Muldoon là cha mẹ của ba người con và là tác giả của một số sách về hôn nhân và gia đình. |