Chúa Là Ai Đối Với Tôi?

0

Thiên Chúa là ai? Tôi đang cầu nguyện với một Thiên Chúa nào? Chúa là ai đối với tôi? Cách tốt nhất để trả lời những câu hỏi căn bản trên đây là kể lại những câu chuyện như câu chuyện cổ tích Ấn Độ về thầy bói xem voi:

Có bốn anh mù đi xem voi. Chưa một ai trong bốn người này đã một lần biết đến con voi. Họ bắt đầu dò dẫm, tìm hiểu, sờ đụng và mô tả về voi. Người thứ nhất sờ cái vòi cho rằng voi như là một con rắn. Người thứ hai sờ chân thì nói nó giống thân cây. Người thứ ba sờ tai thì nói nó giống cái áo choàng. Người thứ tư sờ lưng thì nói nó giống bức tường.

Vậy ai trong bốn người này đã mô tả đúng về con voi? Mỗi người, trong sự mù lòa của họ, mô tả một điểm chung, đó là con voi. Tuy nhiên, mỗi người chỉ đúng ở một góc cạnh, nhưng không ai đúng hoàn toàn. [1]

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI THIÊN CHÚA NÀO?

Khi ở Đan viện Genesee, tôi có hỏi Viện phụ một câu hỏi rất thiết thực là: “Khi cầu nguyện, tôi cầu nguyện với ai? Hoặc “Mỗi khi nhắc đến danh Chúa, danh đó có ý nghĩa gì đối với tôi?”

Viện phụ đã trả lời hoàn toàn khác so với những gì tôi mong đợi. Ngài nói: “Đây thực sự là một câu hỏi rất thật, một trong những câu hỏi quan trọng nhất mà cha đã hỏi.” Viện phụ còn quả quyết: Một khi tôi thực sự khát mong muốn biết Thiên Chúa, thì tâm trí tôi không còn nhiều chỗ cho những thứ khác nữa. Biết Thiên Chúa là điều mà không ai có thể biết một cách trọn vẹn và thấu đáo được.

Viện phụ còn khẳng định: “Đây là một câu hỏi rất khó. Tuy nhiên, trong giờ suy niệm, nếu chúng ta chú tâm vào câu hỏi này, chúng ta sẽ dễ dàng thấy rằng, câu hỏi này bao trùm lên mọi góc cạnh của cuộc sống chúng ta. Bởi vì câu hỏi ‘Tôi cầu nguyện với một Thiên Chúa nào?’ sẽ dẫn chúng ta trực tiếp đến một câu hỏi khác, đó là: ‘Tôi là ai khi tôi cầu nguyện với Chúa?’ Và rồi bạn cũng có thể rất ngạc nhiên về đặc tính đa dạng của Thiên Chúa qua những câu hỏi khác như: ‘Tại sao Thiên Chúa lại vừa là Đấng công bằng, vừa là Thiên Chúa nhân hậu; Người là Đấng đáng kính sợ nhưng cũng là Đấng giàu lòng từ bi thương xót?’ Chính những thắc mắc này sẽ dẫn bạn đi sâu vào trong trái tim – trung tâm sự hiện hữu của chúng ta.” “Trái tim” mà Viện phụ muốn nói ở đây là tất cả mọi chiều sâu tâm hồn, mọi tâm tư tình cảm, khát vọng cùng với những nhận thức, trực quan và viễn cảnh của chúng ta. Trái tim là nơi làm cho chúng ta trở thành người nhất. Một trái tim biết lắng nghe là trái tim trong đó chúng ta sẵn sàng bày tỏ với Thiên Chúa tất cả mọi nỗi băn khoăn, thao thức của chúng ta. Với một trái tim như thế, chúng ta sẵn sàng mở ra với Chúa về sự thật của mình, về những gì chúng ta là và những gì chúng ta có. Đó là một hành động của niềm tin và lòng tín thác.

“Phải chăng câu trả lời nằm ngay trong sự chiêm niệm của một trái tim biết lắng nghe?” Tôi thắc mắc. Viện Phụ trả lời: “Điều đó vừa có, lại vừa không.” “Trong chiêm niệm, cha sẽ tìm ra câu trả lời cho vấn đề này. Rồi một lúc nào đó, cha có thể hiểu rõ ngay cả khi những thắc mắc vẫn còn. Những thắc mắc đó sẽ kéo cha đến gần với Thiên Chúa hơn. Nhưng đó là câu hỏi mà không thể chỉ đơn giản là một trong những câu hỏi của cha. Theo một cách nào đó, nó phải là câu hỏi duy nhất mà trong đó mọi vấn đề đều tìm thấy vị trí của mình. Nó đòi hỏi một quyết định dứt khoát để biến câu hỏi đó trở thành chủ đề trọng tâm trong giờ suy niệm của cha.”

HÃY TĨNH LẶNG VÀ BIẾT RẰNG

Thánh vịnh 46 chỉ cho chúng ta biết cách làm cho câu hỏi về Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời sống chúng ta và cách nhận ra Thiên Chúa – Đấng muốn được tìm thấy:

“Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.
Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo.
Nên dầu cho địa cầu chuyển động,

núi đồi có sập xuống biển sâu,
dầu cho sóng biển ầm ầm sôi sục,
núi đồi có lảo đảo khi thủy triều dâng,
ta cũng chẳng sợ gì.
Một dòng sông chảy ra bao nhánh
đem niềm vui cho thành của Chúa Trời:
đây chính là đền thánh Đấng Tối Cao.
Hãy tĩnh lặng và biết Ta đây là Thiên Chúa
Ta thống trị muôn dân, thống trị địa cầu” (Tv 46,1-4.10),

Thánh vịnh gia đã nghe Chúa phán: “Hãy lặng thinh và biết rằng ta là Thiên Chúa. Hãy tĩnh lặng và biết Ta là ai. Hãy tĩnh lặng và biết Ta là Đấng Ta Là và Ta luôn ở với con.”

Cũng như mỗi người trong bốn anh mù trong câu chuyện ngụ ngôn trên đây đều sờ đụng một phần của con voi, trong đời sống đức tin cũng vậy, mỗi người được đánh động bởi một đặc tính khác nhau của Thiên Chúa. Sự thật là mỗi người đều biết Thiên Chúa, nhưng cái biết đó mới chỉ là một phần mà mình đã được đụng chạm chứ chưa phải là cái biết trọn vẹn về Thiên Chúa. Suy ngẫm về câu chuyện bốn anh mù trên đây khi liên hệ tới câu hỏi về Thiên Chúa trong Thánh vịnh, tôi muốn chia sẻ về bốn dung mạo của Thiên Chúa. Tôi ý thức rất rõ rằng, các dung mạo này đều thật nhưng cũng mới chỉ là một phần chứ chưa phải toàn bộ sự thật về Thiên Chúa.

Sự thật đầu tiên của Thiên Chúa là, Chúa -ở-cùng-chúng ta. Thứ hai, Thiên Chúa cá vị. Thứ ba, Thiên Chúa ẩn mình. Và thứ tư, Thiên Chúa đang tìm kiếm chúng ta. Vì thế, tôi mời gọi bạn hãy “tĩnh lặng và cảm nhận” từ trái tim về một Thiên Chúa, Đấng là Thiên Chúa.

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa ở xa. Người không phải là một Thiên Chúa đáng sợ khiến chúng ta phải xa tránh. Thiên Chúa cũng không phải là một Thiên Chúa hay báo oán, nhưng là một Thiên Chúa đồng cảm với mọi nỗi khổ đau của của chúng ta. Người chia sẻ mọi nỗi thống khổ của chúng ta. Thiên Chúa là một Thiên Chúa xót thương, Đấng trước hết và trên hết, đã chọn ở với chúng ta. Ngay khi chúng ta vừa gọi Thiên Chúa là “Đấng-ở-cùng-chúng ta,” là lúc chúng ta đi vào mối tương quan thân mật với Chúa. Khi gọi Thiên Chúa là Đấng Emmanuel, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng liên đới với chúng ta, Người vui với niềm vui của chúng ta và đau với nỗi đau của chúng ta. Người là Đấng biện hộ và bảo vệ chúng ta. Người mang lấy mọi nỗi thống khổ của chúng ta. Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta là một Thiên Chúa rất gần gũi, một Thiên Chúa mà chúng ta gọi Người là Khiên Che, là Thuẫn Đỡ, là Sự Khôn Ngoan, hay nói cách thân thiết, thì Người là Đấng Cứu Giúp, là Mục Tử, là Tình Yêu của chúng ta. Nếu tâm trí chúng ta không cảm được Thiên Chúa là Đấng đã đến, ở giữa và ở cùng chúng ta, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được Người là một Thiên Chúa đầy lòng thương xót (x. Ga 1,14).

Thiên Chúa ở với chúng ta qua Đức Giêsu, Đấng đã mặc lấy xác phàm, Đấng cùng đi bên cạnh chúng ta với trọn tình yêu thương và sự hiểu biết của Thiên Chúa. Tôi còn nhớ mãi về khoảng thời gian rất khó khăn và quan trọng trong cuộc đời tôi. Đó là lúc tôi bị tai nạn do tấm gương của chiếc xe tải chạy ngang qua đập vào, khiến tôi bị gãy năm cái xương sườn và dập lá lách. Tôi phải nhập viện cấp cứu vì có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng. Tại phòng mổ, tôi có cảm giác như mình đang đứng trước ngưỡng cửa sự chết. Giữa lúc tôi hoang mang, lo sợ, Thiên Chúa đã đến và cùng sánh bước với tôi. Điều mà tôi cảm nhận được lúc bấy giờ, là một tình yêu thật vô biên, trong sáng và vô điều kiện. Lúc đó, từ trong tôi, có Lời phán: “Đừng sợ. Ta ở với con!” Khi các y tá trói tôi trên bàn mổ, lúc đó, tôi gạt bỏ hết mọi nỗi sợ hãi và cảm nhận được một sự bình an nội tâm rất sâu đậm. Sau khi phẫu thuật, bác sĩ cho biết, tôi đã mất hai phần ba lượng máu trong cơ thể và tôi cũng đã trải qua một cuộc thập tử nhất sinh. Mặc dù Đức Giêsu đang đứng trước cửa thiên đàng để chào đón tôi, nhưng Thiên Chúa đã cho tôi được trở lại trần gian cho một mục đích, đó là làm chứng rằng Đấng Emmanuel – Thiên Chúa -ở-cùng- chúng ta. Từ trước vô cùng cho đến đời đời, từ trời cao cũng như ở nơi đất thấp, Thiên Chúa vẫn luôn ở cùng chúng ta.

THIÊN CHÚA CÁ VỊ

Sự thật thứ hai về Thiên Chúa là Thiên Chúa ở với mỗi người theo một cách thế đặc biệt, cá vị. Tháng 7 năm 1986, tôi đến viện bảo tàng ở Petersburg để nghiên cứu về bức tranh “Người con hoang đàng trở về” của họa sĩ Rembrandt. Ngồi trước bức họa ở viện Bảo tàng, tôi cố gắng cảm nhận hết những gì tôi thấy. Trong lúc đó, nhiều nhóm du khách đi ngang qua, họ chỉ dừng lại một vài phút để ngắm bức tranh, còn các hướng dẫn viên, hầu hết đều giải thích đó là bức tranh về người cha nhân hậu. Có lẽ nên gọi tên bức tranh là Người cha trắc ẩn đón con thay vì gọi là Người con hoang đàng trở về.

Trong khi chiêm ngắm cách Rembrandt phác họa hình ảnh người cha, tôi có được một cách hiểu hoàn toàn mới về thế nào là sự dịu dàng, là thương xót và tha thứ. Rất hiếm khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ có ai diễn tả được lòng thương xót vô biên của Chúa cách sâu sắc và gần gũi với con người đến thế. Các đặc tính thần thiêng nhất lại được diễn tả qua mối tương quan và các cử chỉ rất người. Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất, Đấng cao cả vô song, nay lại chọn sống với con người trong tương quan rất gần gũi được Tân Ước diễn tả qua chân dung người Cha “Abba – Cha ơi!” – một người Cha gần gũi, yêu thương, hiền từ và nhân hậu.

Abba – Cha ơi! là cách gọi rất thân thương, gần gũi. Khác với từ “Cha” thường mang vẻ uy nghiêm, quyền lực và thống trị, từ Abba diễn tả một cảm giác an toàn, khơi gợi lòng tin tưởng phó thác, sự thuộc về và nhất là sự thân mật, gần gũi như đứa trẻ với cha mình. Từ Abba còn gợi lên một tình yêu thương âu yếm, bao bọc, chở che của cha mẹ, của anh chị, vợ chồng, bạn bè và người yêu.

Gọi Thiên Chúa là “Abba” thì khác với việc đặt cho Thiên Chúa một cái tên quen thuộc nào khác. Khi gọi Thiên Chúa là “Abba” là lúc chúng ta đi vào trong mối tương quan thân mật, tin tưởng và liên đới. Đó chính là mối tương quan mà Đức Giêsu đã thiết lập với Thiên Chúa Cha. Mối tương quan này chính là Thần Khí được ban cho chúng ta qua Đức Giêsu và chính Thần Khí đã gợi lên trong lòng chúng ta khiến chúng ta kêu lên với Thiên Chúa, “Abba – Cha ơi!”

Abba – Cha ơi! là tiếng gọi xuất phát từ trái tim, một lời cầu nguyện được dâng lên tự đáy lòng (x. Rm 8,15 và Gl 4,6). Tiếng gọi này không liên quan gì đến việc đặt tên cho Chúa nhưng đây là một xác tín mạnh mẽ rằng Thiên Chúa chính là nguồn sống của chúng ta. Tiếng gọi này cũng không phải là một ý tưởng ngẫu hứng hay một nhận thức nào đó, nhưng đây là xác quyết do Thần Khí của Đức Giêsu khơi lên trong tâm trí chúng ta. Đây là một xác quyết của tình yêu.

Nhìn kỹ bức tranh của Rembrandt, chúng ta nhận ra hình ảnh của một người mẹ yêu đang đón con trở về. Thiên Chúa là một Thiên Chúa cá vị, vượt trên mọi hữu hạn và giới tính. Nhìn cử chỉ đón tiếp được Rembrandt phác họa trong bức tranh, tôi nhận thấy đó không chỉ là một người cha đang “ôm con trong vòng tay” mà cả một người mẹ đang vuốt ve người con, bao bọc con bằng hơi ấm của mình và ôm con vào trong cung lòng mình nơi bà đã cưu mang. Mỗi lần tôi nhìn cái áo choàng có hình giống như một cái lều hoặc đôi cánh, tôi lại liên tưởng đến tình yêu mẫu tử của Thiên Chúa, và những lúc đó, tâm hồn tôi lại hát lên những lời được cảm hứng từ Vịnh gia:

“Hỡi ai nương tựa Đấng Tối Cao
Và núp bóng Đấng quyền năng tuyệt đối,

Hãy thưa với Chúa rằng:

‘Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con náu ẩn,
Là đồn lũy chở che, con tin tưởng vào Ngài.” (Tv 90, 1-4).

… Chúa phù trì che chở,
Dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân” (Tv 90).

Ý nghĩa sâu xa của sự “trở về của người con hoang đàng” là trở về với cung lòng Thiên Chúa, trở về với chính nguồn cội của sự hiện hữu. Đây cũng là điều mà Đức Giêsu đã nói với ông Nicôdêmô là phải sinh lại từ trên. Điều tôi thấy ở đây, Thiên Chúa như một người mẹ, đang đón nhận trở lại trong lòng dạ mình đứa con mà Thiên Chúa đã tạo nên giống hình ảnh của Người. Cặp mắt gần như mù lòa, đôi bàn tay, áo choàng, thân hình gù xuống, tất cả gợi lên tình mẫu tử yêu thương của Thiên Chúa, được ghi đậm bằng những dấu vết của khổ đau, của ước muốn, hy vọng và nỗi chờ mong khôn nguôi.

Quả thật, mầu nhiệm là ở chỗ, Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót đã trở thành một người Mẹ, Người đã nối kết chính mình với sự sống của các con đến muôn đời. Thiên Chúa, trong tình yêu của người mẹ, đã tự nguyện trở thành lệ thuộc vào các con cái của mình, những người con mà Chúa đã trao ban ân huệ của tự do. Chính sự lựa chọn này đã làm cho Người đau khổ khi con cái rời bỏ mình và cũng mang lại niềm vui cho Người khi con cái trở về. Nhưng niềm vui ấy chỉ trọn vẹn khi tất cả mọi đứa con mà Người đã trao ban sự sống trở về nhà, quây quần bên bàn ăn mà Người đã dọn sẵn cho chúng.

Dụ ngôn người con hoang đàng là câu chuyện nói về một tình yêu có trước mọi sự ruồng bỏ có thể và sẽ tồn tại ở đó mãi mãi sau tất cả mọi phản bội. Đó là tình yêu đầu tiên và vĩnh cửu của một Thiên Chúa vừa là Cha, vừa là Mẹ.

THIÊN CHÚA ẨN MÌNH

Dung mạo thứ ba của Thiên Chúa thật khó chấp nhận, đó là một Thiên Chúa vừa ẩn mình lại vừa có thể nhận thấy, Người là Đấng vừa hữu hình, vừa vô hình. Sự ẩn mình và mầu nhiệm của Thiên Chúa được tán dương trong văn chương thần bí cổ điển của “Đám mây Vô thức – The Cloud of Unknowing.”[2]

Ngay khi chúng ta vừa có kinh nghiệm thiết thực về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời, ngay khi chúng ta vừa trở về nhà, cảm nghiệm được cái ôm đầy yêu thương và cá vị của Chúa, chính lúc đó, chúng ta bắt đầu sống sự thật về sự ẩn mình và vắng mặt của Thiên Chúa. Cuối cùng, chúng ta hiểu ra rằng sự ẩn mình cũng là một khía cạnh thần thiêng.

Và rồi chúng ta khám phá ra một sự thật là, đầu óc con người không thể hiểu thấu và biết rõ Thiên Chúa. Sự thật trọn vẹn về Thiên Chúa vượt trên mọi khả năng và trí hiểu của con người. Cách duy nhất để có thể hiểu hơn về Thiên Chúa, đó là thường xuyên ý thức về những giới hạn của con người để “đạt được” hoặc “được lôi cuốn” đến sự thật toàn vẹn. Lịch sử không thể giải thích ngọn nguồn về Thiên Chúa cũng như sự hiện diện của Người. Mỗi khi chúng ta đồng hóa Thiên Chúa với một biến cố đặc biệt hoặc bối cảnh cụ thể nào, chính lúc ấy, chúng ta đang đóng vai Thiên Chúa và bóp méo sự thật. Chúng ta chỉ có thể trung thành trong xác quyết rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi hoặc xa tránh chúng ta, Người đồng hành và mời gọi chúng ta ngay giữa những khó khăn và nghịch cảnh không thể giải thích được của cuộc sống.

Nếu chúng ta khao khát để cho Thiên Chúa uốn nắn mình, chúng ta cần ý thức sự thật này. Đó là điều rất quan trọng. Chúng ta thường hay bị cám dỗ đòi hỏi mình hoặc người khác phải biết rõ Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động ở đâu và khi nào. Nhưng, sự thật là, không một ai, kể cả giám mục, linh mục, nam tu hay nữ tu, hoặc bất kỳ một vị linh hướng hay một nhà lãnh đạo Kitô giáo nào, có thể hiểu biết tường tận về Thiên Chúa. Sự toàn hảo của Thiên Chúa không thể bị giới hạn nơi bất cứ một khái niệm hay một phỏng đoán nào của con người. Thiên Chúa vượt trên mọi trí hiểu và trái tim con người. Người hoàn toàn tự do tỏ hiện ở nơi nào và lúc nào Người muốn.

Trong Những Bức Thư và Bài Viết từ Nhà Tù, Dietrich Bonhoeffer đã viết: “Thiên Chúa, Đấng ở với chúng ta cũng chính là Đấng ruồng bỏ chúng ta (Mc 15,34). Trước nhan thánh Chúa và trong Chúa, chúng ta vẫn sống sự ẩn mình của Chúa.”[3] Khi suy niệm về câu hỏi “Thiên Chúa là ai và Thiên Chúa là ai đối với tôi?” chúng ta đụng chạm tới một sự thật đáng sợ là cuộc sống mỏng giòn của chúng ta bị giao động giữa hai thế lực của đêm tối. Chúng ta ngần ngại ra khỏi bóng tối của dạ mẹ lúc được sinh ra và sợ hãi đi vào đêm tối của sự chết. Chúng ta cứ lần lượt di chuyển trên hành trình từ bụi đất rồi về lại với bụi đất, từ tình trạng không biết này đến không biết khác, từ mầu nhiệm này đến mầu nhiệm khác.

Trên sợi dây mong manh của cuộc đời, chúng ta cần giữ sự thăng bằng cần thiết vì sợi dây đó đang căng giãn để nối giữa hai cực đánh dấu cuộc đời theo trình tự thời gian. Chúng ta luôn phải đối diện với một thực tế của những điều không biết và không thấy. Những điều này chi phối mọi ngõ ngách của cuộc sống chúng ta khiến chúng ta lo âu, sợ hãi. Tuy nhiên, bên cạnh những lo âu sợ hãi, chúng ta lại cảm nhận được những mầu nhiệm bí ẩn của cuộc sống. Điều lạ lùng là: “dù chúng ta đang bước đi trong cảnh tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng” (Mt 4,16). Ánh sáng này, đang khi có thể bị che khuất, không thể lộ ra bên ngoài, nhưng thực chất nó vẫn chiếu sáng muôn đời.

Ánh sáng của Chúa vượt xa mọi bóng tối, vượt trên mọi con tim và khối óc của chúng ta. Ánh sáng đó cũng vượt trên mọi tình cảm và tư tưởng, vượt xa mọi mong đợi và ước muốn của chúng ta, trên cả mọi biến cố và kinh nghiệm làm nên cuộc sống của chúng ta. Quả thực, Thiên Chúa ở tại trung tâm của tất cả mọi sự.

Trong suy niệm và cầu nguyện, chính lúc Thiên Chúa tỏ hiện cũng là lúc Người ẩn mình. Và sự ẩn mình của Thiên Chúa không bao giờ tách khỏi sự hiện diện của Người trong tâm hồn chúng ta. Rất dễ hiểu lầm hoặc có những nhận thức sai lệch về sự ẩn mình của Thiên Chúa, vì sự hiện diện của Chúa thì vượt xa mọi kinh nghiệm của con người khi ở gần một người khác. Mặt khác, việc ẩn mình của Thiên Chúa thường đưa chúng ta đi vào một cảm nghiệm sâu hơn và có một kinh nghiệm mới về sự hiện diện của Chúa.  Điều này được diễn tả cách hùng hồn trong Thánh vịnh 22,1-5:

Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa,
Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?
Dù con thảm thiết kêu gào,
Nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời!
Ngày kêu cứu, Chúa không đáp ứng,
Đêm van Ngài mà cũng chẳng yên.
Thế nhưng Chúa ngự nơi đền,
Vinh quang của Israel là Ngài.
Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa,
Họ cậy trông, Ngài đã độ trì,
Van nài liền được cứu nguy,
Đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài.

Lời cầu nguyện phó thác này không chỉ là tâm tình của dân Israel dâng lên Thiên Chúa về những kinh nghiệm của họ, nhưng còn là một lời cầu nguyện trọng tâm của tất cả mọi Kitô hữu. Khi Chúa Giêsu lặp lại lời cầu nguyện này ở trên thập giá, thì mọi nỗi cô đơn và sự đón nhận được giao hòa trọn vẹn. Ngay trong giờ phút hoàn toàn cô đơn và trống trải đó, mọi sự được hoàn tất. Ánh sáng ló rạng ngay trong bóng tối của đêm đen. Mầm sống mới xuất hiện ngay trong sự chết. Nơi nào dường như thiếu vắng Thiên Chúa nhất, thì tại nơi đó, Thiên Chúa lại tỏ hiện cách thâm sâu nhất.

Sự hiện diện nhiệm mầu của Thiên Chúa chỉ có thể cảm nhận được khi chúng ta ý thức sâu xa về sự vắng mặt của Chúa. Chính trong nỗi khao khát trong những lúc Chúa ẩn mình, chúng ta nhận ra dấu vết của Người. Ý thức sự hiện diện của Chúa giúp chúng ta nhận biết là mình đang được ấp ủ trong bàn tay yêu thương của Chúa. Chính khi cầu nguyện, chúng ta đi vào mầu nhiệm của sự tối và ánh sáng thần thiêng, trong sự hiện diện cũng như sự ẩn mình của Thiên Chúa.

Mỗi khi chúng ta đi sâu vào trong nội tâm mình, hoặc vào trong “đám mây vô thức,” nói theo ngôn ngữ của các nhà thần bí, đó là lúc chúng ta đi sâu hơn vào trong sự nhận biết Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta, cứu chuộc và phù trợ chúng ta. Nơi đó, chúng ta nhận biết Thiên Chúa chính là cội nguồn, là trung tâm và là cùng đích của cuộc sống chúng ta. Người là Đấng hằng muốn trao ban cho chúng ta tình yêu của Người, một tình yêu vô điều kiện, không giới hạn và không có gì có thể cưỡng lại được. Thiên Chúa cũng muốn chúng ta yêu Người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn.

Trong đám mây vô thức, không còn sự phân biệt giữa Thiên Chúa hiện diện và Thiên Chúa ẩn mình nữa. Đó là nơi diễn ra cuộc gặp gỡ vĩ đại và qua đó, mọi cuộc gặp gỡ khác tìm thấy ý nghĩa. Đó cũng chính là nơi lóe lên những dung mạo khác nhau về Thiên Chúa như: Thiên Chúa – ở – cùng – chúng ta, Thiên Chúa như Cha – Mẹ, Thiên Chúa vừa hiện diện lại vừa ẩn mình – tất cả các ý niệm trên hợp lại với nhau thành một. Chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa trong sự tĩnh lặng của trái tim, trong cõi thâm sâu của tâm hồn và trong đám mây vô thức.

THIÊN CHÚA ĐI TÌM CHÚNG TA

Sự thật thứ tư về Thiên Chúa – Đấng chúng ta cầu khẩn, lại chính là một Thiên Chúa luôn đi tìm chúng ta. Thiên Chúa đi tìm chúng ta chứ không phải chúng ta tìm Chúa.

Chúa là mục tử tốt lành luôn đi tìm chiên lạc. Thiên Chúa như người phụ nữ đánh mất đồng bạc. Bà đã thắp đèn, quét nhà và soi từng ngõ ngách cho đến khi tìm lại được đồng bạc đã mất. Thiên Chúa không phải là một ông bố hà khắc, trưởng giả, chẳng bao giờ bước ra ngoài nhưng luôn ngồi chễm chệ ở nhà và yêu cầu các con cái phải đến với mình. Thiên Chúa cũng không phải là người cha luôn bắt con cái phải xin lỗi về những thái độ vô lễ của chúng. Người cũng không bắt các con cái cầu xin sự tha thứ hoặc hứa lần sau sẽ làm tốt hơn. Nhưng Thiên Chúa là Đấng luôn dõi theo và chờ đợi con cái mình, Người chạy ra đón gặp các con, ôm lấy các con, bênh đỡ các con và nài xin các con trở về nhà. Điều này nghe có vẻ lạ tai, nhưng quả thật, Chúa luôn khao khát đi tìm chúng ta hơn chúng ta muốn tìm Chúa.

Dường như trong suốt cuộc đời, tôi cứ loay hoay đi tìm Chúa, phấn đấu để biết Chúa hơn và yêu Chúa nhiều hơn. Tôi cố gắng hết sức để thực hành những chỉ dẫn thiêng liêng như: cầu nguyện luôn luôn, giúp đỡ người khác, đọc Thánh Kinh và xa tránh những chước cám dỗ kéo tôi lạc xa Chúa và đánh mất chính mình. Mặc dù tôi vấp ngã nhiều phen, nhưng mỗi lần ngã thì tôi lại cố gắng đứng lên và bắt đầu lại, ngay cả những lúc tôi gần như tuyệt vọng.

Giờ đây, tôi tự hỏi, phải chăng mình vẫn chưa ý thức đủ và xác tín rằng, Thiên Chúa luôn luôn đi tìm tôi trong mọi nơi mọi lúc. Người biết rõ về tôi và hết lòng yêu thương tôi. Câu hỏi đặt ra ở đây không phải là “Tôi phải tìm Chúa bằng cách nào?” nhưng là “Tôi để cho Chúa tìm tôi thế nào?” Không phải là “Tôi biết Chúa như thế nào?” nhưng là “Tôi đã để cho Chúa biết tôi bằng cách nào?” Câu hỏi không phải là “Tôi yêu Chúa như thế nào?” nhưng là “Tôi đã để cho Chúa yêu tôi thế nào?” Và cuối cùng, câu hỏi không phải là “Chúa là ai đối với tôi?” nhưng là “Tôi là ai đối với Chúa?”

Hạnh phúc biết bao khi Thiên Chúa luôn luôn đi tìm tôi. Và dù tôi có ở chân trời nào đi nữa và Thiên Chúa vẫn khao khát mong mỏi đưa tôi về nhà. Cùng cách thức đó, Thiên Chúa đang đi tìm tôi.

NHỮNG THỰC HÀNH CHO VIỆC ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

“Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa thích điều gì? Thiên Chúa là ai đối với tôi?” Đó là những câu hỏi muôn thuở của con tim. Vậy bạn sẽ trả lời những câu hỏi này thế nào? Hãy thảo luận những câu hỏi này với vị linh hướng hoặc với nhóm cầu nguyện của bạn.

Suy niệm Thánh vịnh 46 và thảo luận trong một nhóm nhỏ về bốn “nửa sự thật” về bản chất và ước muốn của Thiên Chúa: Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Thiên Chúa cá vị, Thiên Chúa ẩn mình tựa ánh sáng vượt trên bóng tối, hiện diện trong sự vắng mặt, và Thiên Chúa đi tìm chúng ta tại nơi chúng ta ở. Sự thật nào trong bốn sự thật trên đây gần gũi với kinh nghiệm thiêng liêng của bạn nhất? Chia sẻ điều này với vị linh hướng hay với nhóm cầu nguyện.

Bạn cần sắp xếp chương trình và có kỷ luật bản thân trong việc dành thời gian để thiền nguyện và suy gẫm – để có thể “thinh lặng và nhận biết” trong tâm hồn rằng Thiên Chúa đang đi tìm bạn. Hãy nhớ lại hình ảnh của ngôn sứ Elia trên núi Horeb. Ngôn sứ Elia không thấy Chúa trong gió bão, cũng không thấy trong động đất, không thấy trong ngọn lửa bừng bừng. Nhưng ngôn sứ Elia đã nghe tiếng Chúa trong làn gió hiu hiu, trong lời thì thầm, nhẹ nhàng và êm dịu (x. 1V 19,9-13). Hãy tưởng tượng cộng đoàn đang quay quần chung quanh lửa trại, cùng nhau hát Thánh vịnh 46. Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi mọi nguy hiểm của núi gầm, đá lở và nước lũ. Thiên Chúa là nơi ẩn náu, là sức mạnh của chúng ta. Người là Đấng luôn hiện diện và giúp đỡ chúng ta trong những lúc ngặt nghèo. Vì thế, họ không còn phải sợ bất kỳ mối lo sợ nào, nhưng hát ca và tĩnh lặng. Họ nghe lời thì thầm của Chúa. Càng thực hành việc thiền nguyện và suy gẫm càng làm cho chúng ta nhạy bén hơn với tiếng thì thầm của Chúa.

Trong tâm tình đó, tôi muốn gửi tặng bạn bài suy niệm đơn sơ về Thánh vịnh 46,10[4] như một bài tập thực hành. Hãy đọc câu Thánh vịnh trong tĩnh lặng, hoặc lắng nghe một ai đó đọc cách chậm rãi và ngồi thinh lặng với một vài người bạn. Sau đó, chia sẻ với vị linh hướng hoặc với người bạn tâm phúc về những điều được đánh động giờ suy niệm.

MỘT HƯỚNG DẪN SUY NIỆM VỀ THÁNH VỊNH 46,10

Hãy tĩnh lặng và biết Ta là Đức Chúa.

Hãy tĩnh lặng: Hãy lặng yên…. thinh lặng …. thư giãn

Hãy hiện diện… ở đây… ngay lúc này…

Công việc đầu tiên của việc tập luyện là ở với Chúa… ngồi dưới chân Chúa, lắng nghe và chú ý đến tất cả mọi lời Chúa nói, mọi việc Người làm và mọi điều Người cật vấn.

Thiên Chúa là tất cả mọi ước muốn và nhu cầu của chúng ta… Người là khiên che thuẫn đỡ, là nơi trú ẩn an toàn, là mục tử và là sự khôn ngoan của chúng ta. Người quan tâm đến chúng ta… nuôi dưỡng chúng ta… và ban sự sống cho chúng ta…

Hãy tĩnh lặng… đó là điều không dễ… để Chúa nói với chúng ta… thổi hơi vào trong chúng ta… hành động trong chúng ta… cầu nguyện trong ta… Hãy để Chúa đi vào trong những nơi sâu kín của tâm hồn, những chỗ đang bị chúng ta khóa chặt… hãy để Chúa chạm vào những nơi đó, cho dù nó có thể làm chúng ta cảm thấy khó chịu và đau đớn…

Dừng lại trong thinh lặng là tin tưởng… là phó thác… là buông bỏ… vững tin.

Dừng lại trong thinh lặng… để biết Chúa là ai và nhận ra những công việc Chúa làm… không chỉ dừng lại một lần… cũng không phải ở trong những trường hợp đặc biệt… nhưng là luôn luôn…. Hãy lặng thinh để lắng nghe Đấng vẫn luôn nói với bạn, để thấy những công việc của Đấng hoạt động không ngừng… và để nếm cảm sự hiện diện của Đấng luôn ở cùng và ở với chúng ta.

Hãy biết: đạt đến một sự nhận biết… một sự hiểu biết tường tận… sự nhận biết thân mật tròn đầy.

Biết ở đây được ví như một hình thức chuẩn đoán… sự hiểu biết thấu đáo. Sự hiểu biết bằng con tim và sự cảm nhận của trái tim… Hãy lặng thinh và biết. Hãy cố gắng đạt tới sự hiểu biết thâm sâu đó. Có sự hiểu biết làm chúng ta xôn xao, bối rối, sao nhãng và chia rẽ… nhưng biết Chúa… đó là một cái biết của trái tim… của toàn bộ con người. Đó là cái biết qua cảm nhận của giác quan như nhìn, nghe, sờ đụng và ngửi thấy.

Hãy lặng thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Đây không phải là cái biết khiến chúng ta sợ hãi… nhưng là cái biết tràn đầy bình an. Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của cái chết nhưng là Thiên Chúa của sự sống. Người không phải là Thiên Chúa hay báo oán nhưng là Thiên Chúa của tình thương. Hãy biết Ta là Đức Chúa… là Chúa của ngươi. Thiên Chúa là tình yêu… Đấng đã cúi xuống và chạm tới chúng ta với một tình yêu vô điều kiện và không biên giới.

Hãy lặng thinh và biết rằng Ta yêu con… Ta đã ôm con trong cánh tay Ta để phù trợ con… mọi sợi tóc trên đầu của con, Ta đều đếm cả… con thật quý giá như thể con ngươi trong mắt Ta… tên của con được khắc trong trái tim Ta… “Chính Ta đây… Đừng sợ!”

Trong tình yêu Chúa, chúng ta chẳng có gì phải giấu giếm. Tất cả mọi lỗi lầm của chúng ta… nỗi khổ nhục… sự sợ hãi… tội lỗi của chúng ta, Chúa muốn nhìn thấy, đụng chạm tới và chữa lành tất cả… và Người muốn được chúng ta nhận biết Người là Thiên Chúa tình yêu. Ngoài Chúa ra không còn chúa nào khác.

Hãy lặng thinh và biết rằng Ta là Đức Chúa. Thiên Chúa không ở trong bão tố, cũng không ở trong những trận cuồng phong, động đất, lửa thiêu, nhưng Người ở trong sự tĩnh lặng, trong tiếng nói thì thầm, trong làn gió hiu hiu và trong sự thinh lặng tuyệt đối…

Hãy lặng thinh và biết Ta là Đức Chúa. Trong tuần này, bạn cố gắng suy đi nghĩ lại những lời này… hãy để cho những lời này như hạt giống nhỏ bé được gieo vào đất tốt của tâm hồn bạn và hãy để nó được lớn lên…

Hãy lặng thinh và biết rằng Ta là Đức Chúa.

Lời nguyện kết thúc

Lạy Chúa, bây giờ con mới hiểu rằng, chính trong sự tĩnh mịch, trong giây phút thinh lặng, trong góc nhỏ bị lãng quên của tâm hồn con, Chúa đã đến tìm gặp con. Chúa gọi tên con và nói với con những lời bình an. Xin Chúa giúp con biết sống tĩnh lặng và nhận biết Chúa bằng chính tên của Ngài.

Gợi ý suy niệm

Hình ảnh của Chúa trong tôi thế nào? Khi tôi nhắm mắt lại, hình ảnh của Chúa hiện lên trong đầu tôi như thế nào? Giọng nói của Chúa ra sao?

Đã khi nào bạn cảm thấy Chúa ẩn mặt trong cuộc đời của bạn chưa? Kinh nghiệm về sự ẩn mình của Chúa, một dung mạo khó đón nhận và cũng không mấy quen thuộc, có ảnh hưởng nào trong đời sống đức tin của bạn?

Bạn cảm thấy Thiên Chúa hiện diện cá vị với bạn lúc nào? Kinh nghiệm này đã giúp đức tin của bạn lớn mạnh ra sao?

Chuyển ngữ: Nt. Theresa Nguyễn Thị Ngọc Hà 
Nguồn: Nouwen, Henri JM. Spiritual Direction: Wisdom for the Long Walk of Faith. HarperSanFrancisco, 2006, p. 71 – 85.

[1] Trích từ Kinh Phật
[2] Khuyết danh, The Cloud of Unknowing
[3] Dietrich Bonhoeffer Những Bức Thư và Bài Viết từ Nhà Tù, biên tập bởi Eberhard Bethge (Macmillan, 1972), tr. 360, cha Nouwen đã trích dẫn trong cuốn sách The Living Reminder (1977).
[4] “Hãy Lặng Thinh và Biết” là một phần của loạt bài suy niệm về Mùa Vọng của cha Henri được chia sẻ tại đại học Yale vào ngày 07/11/1979

Comments are closed.