Ơn huệ sự sống

0

 quatang

Thánh Vịnh 139 (138) – CGKPV, Tuần IV, Thứ Tư, Kinh Chiều

Chúng ta được mời gọi cầu nguyện với Tv 139 với lòng ước ao đáp lại, hay đúng hơn, như cách thức đáp lại lời mời gọi của Đức Giê-su, đó là đến với Ngài, ở lại và học với Ngài:

Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11, 29)

Khi đến học với Ngài, Ngài không chỉ dạy chúng ta bằng lời của Ngài hay qua trình thuật nói về Ngài trong các Tin Mừng, nhưng Ngài còn dạy chúng ta trong toàn bộ Kinh Thánh với tư cách là Ngôi Lời Thiên Chúa; hơn nữa, toàn bộ Kinh Thánh loan báo Đức Ki-tô và Đức Ki-tô hoàn tất Kinh Thánh (x. Lc 24, 44).

Vậy, xin cho chúng ta nghe được Lời Chúa, khi cầu nguyện với Tv 139. Và Lời Chúa trong Tv 139 mời gọi chúng ta nhớ lại ơn huệ sự sống và tất cả những gì liên quan đến sự sống của chúng ta, đến cuộc đời của chúng ta, trong hành trình làm người và hành trình ơn gọi. Và việc nhớ lại ơn huệ sự sống, theo năng động thiêng liêng của Tv 139, có sức mạnh “tái sinh” chúng ta. Ơn tái sinh, theo Tv 139, có 3 chiều kích:

– Tái sinh là nhận ra tình thương bao dung của Chúa: “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng”.
– Tái sinh là thái độ nội tâm, đoạn tuyệt với sự dữ: “ước gì bọn khát máu, đi cho khuất mắt con”.
– Và tái sinh là ước ao để cho Chúa dẫn đưa: “xin dẫn con theo chính lộ ngàn đời”.

Cầu nguyện với Thánh Vịnh, chúng ta có thể áp dụng phương pháp suy niệm (xem bản “Cách cầu nguyện với Kinh Thánh” ), và đặc biệt chú ý đến các động từ. Và để cầu nguyện với Thánh Vịnh, chúng ta sẽ được giúp để nhận ra chuyển động thiêng liêng của Thánh Vịnh.

*  *  *

CHUẨN BỊ

Khung cảnh: môi trường sống (có thể nhớ lại những nơi mình đã sống trong cuộc đời và trong hành trình ơn gọi)

Ơn xin:

– Nhận ra thái độ lẫn tránh Chúa, dưới mọi hình thức của chúng ta.
– Xin nhớ lại ơn huệ sự sống và tất cả liên quan đến sự sống (cha mẹ, gia đình, những người thân yêu, tương quan, ơn gọi..); từ đó, xin Chúa khơi dậy tâm tình biết ơn và lòng khao khát để cho Chúa dẫn đưa trên con đường sự sống vĩnh hằng và hướng tới sự sống nơi Đức Giê-su Ki-tô, là Đường, Sự Thật và Sự Sống.
– Nhớ lại ơn tạo dựng và khát khao để cho Chúa tiếp tục tạo dựng trong Đức Giê-su Ki-tô.
– Nhận lời nguyện này của Thánh Vịnh làm của mình: “Lạy Chúa, xin dò xét…” (c. 23-24)

Lời nguyện Tv 139 nói về tương quan của từng người chúng ta với Thiên Chúa:
– Trước hết trong không gian lớn, nghĩa là môi trường sống (c. 1-12)
– Sau đó trong không gian bé, qua việc nhớ lại ơn huệ sự sống, nghĩa là bào thai (c. 13-18)
– Cuối cùng trở lại với không gian lớn, con người được “tái sinh” với ý muốn đoạn tuyệt với Sự Dữ và lòng ước ao được Chúa dò xét, thử luyện (lúc đầu là bị!) và được Người dẫn đưa trên chính lộ ngàn đời.

1. Thiên Chúa và con người trong không gian lớn (c. 1-12)

a. Không gian thường ngày (c. 1-6)

Con người: chúng ta chú ý đến các động từ : đứng, ngồi, đi lại, nghỉ ngơi, đi con đường nào (không chỉ là đường đi, nhưng còn là lối đi của cuộc đời); tư tưởng, lời nói.

Thiên Chúa: dò xét, biết rõ, thấu suốt từ xa, xem xét, quen thuộc, am tường, bao bọc cả sau lẫn trước, “bàn tay đặt lên con” (c. 5). Thiên Chúa không chỉ biết và nhìn từ xa; điều này đôi khi làm cho chúng ta sợ hãi. Nhưng Thiên Chúa cũng rất gần gũi, vì Ngài bao bọc chúng ta “cả sau lẫn trước”.

Chúng ta được mời gọi đọc lại mỗi ngày sống, đọc lại cuộc đời để nhận ra sự “bao bọc” của ChúaThiên Chúa. Và Ngài không chỉ bao bọc, nhưng còn muốn đụng tới được chúng ta, bởi vì chúng ta vốn là hình ảnh của Ngài. Qủa thật, Ngài đang đụng đến chúng ta bằng lời của Ngài và chúng ta thực sự cảm thấy sự đụng chạm, bằng chứng là lòng chúng ta xao động, chúng ta được “đánh động”, khi lắng nghe Lời Chúa trong cầu nguyện.

Nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa còn muốn trở nên một với chúng ta, qua mầu nhiệm Thánh Thể. Xin cho chúng ta có được kinh nghiệm này: ai “đụng” được vào Ngài, hoặc ai để cho Ngài “đụng” tới, sẽ được chữa lành.

b. Không gian nhìn thấy (c. 7-10)

Con người “đi đâu mãi đâu cho thoát thần trí Ngài”. Được Chúa bao bọc, nhưng con người dường như lại muốn chạy thoát, muốn lẩn trốn: “lẩn nơi nào cho khuất” (trường hợp người con hoang đàng trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu).

Nhưng để trốn tránh Thiên Chúa, con người sẽ chạy đi đâu, sẽ lẩn ở đâu? Trong không gian thường ngày là không thể được; vậy thì phải chạy đi, bay đi thật xa: “Con có lên trời…, nằm dưới âm ty. Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện, đến ở nơi chân trời góc biển phương tây”.

Về phía Thiên Chúa, Ngài hiện diện ở nơi con người muốn đến; và hơn nữa chính tay Chúa đưa dẫn và gìn giữ. Bởi lẽ Ngài tạo dựng nên mọi sự, không gian và thời gian, Ngài duy trì sự sống của chúng ta từng giây phút, vì thế, Ngài luôn nắm được con người. Hơn nữa, con người được tạo dựng bởi Thiên Chúa, cho Thiên Chúa và theo hình ảnh Thiên Chúa, nên không thể tránh né “vấn đề Thiên Chúa”.

Như thế, Tv 139 đưa chúng ta vào khoảng trống bao la của không gian, vốn được tạo dựng để cho con người nhận biết và gặp gỡ Thiên Chúa, nhưng trong thực tế lại diễn ra khả thể “chạy trốn Thiên Chúa”. Chạy chốn, nhưng uổng công! Chúng ta cũng có thể hiểu, “không gian” là môi trường sống, là những gì chúng ta có và những gì chúng ta là trong cuộc đời và trong hành trình ơn gọi: thay vì những điều đó là quà tặng, là dấu chỉ diễn tả sự hiện diện bao bọc yêu thương của Thiên Chúa, là trung gian để giúp chúng ta gặp gỡ Chúa, thì trong thực thế, đã trở thành nơi chúng ta ẩn nấp, chạy trốn Thiên Chúa, bằng cách biến chúng thành cùng đích, thành ngẫu tượng. Chúng ta không muốn để cho Chúa nắm bắt và dẫn đưa, nhưng chúng ta có tránh, có lẫn được không?

c. Không gian tăm tối (c.11-12)

Con người cố tránh, cố lẩn Thiên Chúa trong cuộc sống, nhưng không được; như vậy, chỉ còn lại một khả thể nữa, khả thể cuối cùng: “Ước gì bóng tối bao phủ tôi và ánh sáng quanh tôi thành đêm tối!” (c. 11).
– Nếu sống mà không lẫn tránh được Thiên Chúa, thì tôi “không thèm sống” nữa! Bởi lẽ bóng tối và đem đen là hình ảnh của sự chết. Đó là kinh nghiệm của các ngôn sứ Giona và Elia: “Giờ đây, lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài lấy mạng sống con đi, vì thà con chết còn hơn là sống!” (Gn 4, 3); “Lạy ĐỨC CHÚA, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con” (2V 19, 4).
– Và nếu chưa thể chết được, tôi muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của tôi, tôi muốn sống trong bóng tối và đêm đen của tôi, tôi sống mà như chết, nghĩa là không dấn thân, không đảm nhận, sống trong hỗn mang, trong vô nghĩa của bóng tối và đêm đen.

Nhưng, đối với Thiên Chúa : “cả tối tăm cũng không phải là tối tăm, và ban đêm cũng như ban ngày đều là ánh sáng” (c. 12). Bởi vì, Thiên Chúa là ánh sáng và là sự sống; và chúng ta được dựng nên là để cho ánh sáng và sự sống của Chúa. Nơi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, Thiên Chúa sẽ đến “đụng chạm” chúng ta ngay trong lựa chọn bóng tối và đêm đen, và ngay cả trong chính sự chết, để giải thoát chúng ta và dẫn đưa chúng ta vào trong cõi đầy ánh sáng và sự sống. Chúng ta có thể hiểu hiểu khả thể này như “đi lạc vào đường gian ác” (c. 23)

Tương quan của Thiên Chúa với con người trong “không gian lớn”, thật không dễ dàng chút nào. Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này. Nhưng tại sao tương quan này rơi vào tình trạng mỏng dòn, thậm chí đổ vỡ như vậy ? Trong khi, lúc khởi đầu của ơn huệ sự sống, tương quan giữa Thiên Chúa và con người đâu có như vậy!

2. Thiên Chúa và con người trong không gian bé (c. 13-18)

Lời nguyện Thánh Vịnh bổng chốc chuyển từ “không gian lớn” sang “không gian bé”, với nhiều tương phản: chết (c. 8 và 11)/sống (sinh ra); sự khác biệt tương quan giữa Thiên Chúa và con người trong hai không gian.

– Nếu con người di chuyển ngang dọc trong không gian lớn, thì trong không gian bé, nghĩa là trong bụng mẹ, con người chẳng ngo ngoe gì được, chỉ có thể lâu lây giẫy một tí thôi.

Còn Thiên Chúa thì sao? Ngài cấu tạo (đúng nghĩa là sáng tạo), Ngài dệt nên hình hài chúng ta. Tấm thảm nghệ thuật đã được dệt công phu như thế nào, con người chúng ta còn “nghệ thuật” hơn gấp bội! Đó là một công trình “xiết bao kì diệu” và thật lạ lùng. Không kì diệu và lạ lùng sao được, bởi nếu đã có cái gì trục trặc, chúng ta đã không hiện hữu, hay không được như thế này và đang ngồi đây.

Nhưng khởi đầu của ơn huệ sự sống vẫn chưa hoàn toàn là lúc con người được hình thành trong dạ mẹ, bởi vì trước đó, con người đã “được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu” rồi. “Nơi bí ẩn và lòng đất thẳm sâu” vừa nói cho chúng ta về kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa có từ trước muôn đời, như thánh Phao-lô nói: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ” (Eph 1, 4), vừa loan báo cho chúng ta niềm hi vọng phục sinh, khi chúng ta sẽ phải trở về nơi bí ẩn, trở về lòng đất thẳm sâu của sự chết và của hư vô. Bởi vì, “mọi ngày đời được dành sẵn cho con, đều thấy ghi trong sổ sách Ngài”.

Có thể nói, tất cả chuyển động thiêng liêng của Tv 139 xoay quanh một không gian bé nhỏ, mà chúng ta có thể gọi là “sáng tạo điểm” (tương tự như khi chúng ta nói : “trường điểm”), đó là bào thai dấu ẩn, có sức mạnh làm trào vọt ra tâm tình cảm phục Thiên Chúa và muốn sống cho một mình Chúa:

Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao,
tính chung lại, ôi nhiều vô kể!
Đếm sao nổi, vì nhiều hơn cát;
dù có đếm xong, con vẫn ở với Ngài.

3. Thiên Chúa và con người được “tái sinh”, trong không gian lớn (c. 19-24)

a. Đoạn tuyệt với Sự Dữ (c. 19-22)[1]

Lạy Chúa, ước chi Ngài tiêu diệt kẻ gian tà,

ước gì bọn khát máu đi cho khuất mắt con!… (c. 19-22)

Tác giả Thánh Vịnh vươn ra không gian lớn, rồi quay trở lại với không gian bé; và khi “du hành trong không gian”, tác giả Thánh Vịnh đã nghĩ đến sự chết (c. 8 và 11); nhưng khi đến với bào thai, tác giả lại tìm thấy khởi đầu của sự sống. Đó là khởi đầu của một quảng đời đã qua, nhưng được “sống” một cách mới mẻ hôm nay; và đó là một chuyển động thiêng liêng có sức mạnh khởi dậy lòng ước ao sống sự sống mới, lòng ước ao đi con đường mới. Và để đi trên con đường mới này, để sống sự sống mới, con người phải đoạn tuyệt với “những kẻ gian tà”:

Kẻ gian tà và bọn khát máu (tương quan với người khác), những kẻ ghét Thiên Chúa và chống lại Thiên Chúa (tương quan với Thiên Chúa), bằng những mưu mô lừa gạt xảo quyệt. Đó không phải là những người kẻ tội lỗi lầm lạc đáng thương, nhưng là những người lựa chọn Sự Dữ, đồng hòa với Sự Dữ, tự biến mình thành tay sai của Sự Dữ. Vì thế những người này là hiện thân của Sự Dữ; hoặc là chính Sự Dữ, là Con Rắn, hành động nơi những con người cụ thể. Ngoài ra, Sự Dữ còn hiện diện dưới hình thức những năng động xấu và lệch lạc (vô ơn, nghi ngờ, ham muốn, ghen tị, ý muốn loại trừ…). Do đó, ở mức độ này, Sự Dữ không chỉ hiện diện ở bên ngoài chúng ta, nhưng còn có mặt ngay trong nội tâm của chúng ta.

Như thế, nhớ lại ơn huệ sự sống là một chuyển động thiêng liêng có sức mạnh “tái sinh” chúng ta, làm chúng ta bật dậy, đoạn tuyệt với những gì nghịch với Thiên Chúa, không thuộc về Thiên Chúa, để hướng về Chúa và để cho Ngài dẫn đưa. Như người con hoang đàng trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, khi tự đánh mất chính mình, anh đã nhớ lại người cha và cuộc sống trong nhà cha, làm khơi dậy nơi anh quyết tâm đoạn tuyệt với lối sống lệch lạc và ước ao trở về với Cha. Vậy, chúng ta hãy nhớ lại ơn huệ sự sống và tất cả những gì liên quan đến sự sống của chúng ta, đến cuộc đời của chúng ta, trong hành trình làm người và hành trình ơn gọi.

b. Để được Chúa dẫn đưa (c. 23-24)

Sự sống mới này dẫn tác giả Thánh Vịnh đến một lời nguyện rất ngắn, nhưng thật tuyệt vời (c. 23-24): lời nguyện diễn tả lòng ước ao được Chúa biết rõ, được Chúa thử luyện và được Chúa dẫn đưa (lúc đầu thì “bị” biết, “bị thử, “bị” dẫn).

Bởi lẽ, con người không thể một mình đi trên đường mới được, con người cần có Thiên Chúa đồng hành và dẫn dắt. Thiên Chúa ban Đức Giêsu Ki-tô cho chúng ta như một qùa tặng tuyệt vời để đồng hành với chúng ta, như là Đường Đi để dẫn dắt chúng ta. Thực vậy, Ngài nói: “Hãy đến học cùng Thầy vì Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 28-30).

Cùng với tác giả Thánh Vịnh, chúng ta ước ao “nằm im” (hình ảnh cô Maria ngồi bên chân Đức Giê-su), như khi còn nằm trong bụng mẹ, để cho Thiên Chúa tiếp tục sáng tạo chúng ta trong Con của Ngài, là Đức Ki-tô. Sáng tạo hiểu theo trình thuật Sáng Tạo Bảy Ngày (St 1) : soi sáng, phân rẽ, đặt tên, ban phát, sắp xếp… Với Đức Ki-tô, Thiên Chúa không chỉ tiếp tục sáng tạo chúng ta bằng Lời của Ngài, nhưng bằng Ngôi Lời, nghĩa là bằng chính sự sống của Thiên Chúa, ngang qua Mình và Máu Đức Ki-tô.

Và chúng ta cần Chúa tiếp tục sáng tạo biết bao, cho sự sống này và nhất là cho sự sống mới trong Đức Ki-tô chết và phục sinh, với công trình sáng tạo mới ; tâm tình và tư thế thích hợp nhất để cho Chúa tiếp tục sáng tạo chúng ta, là tâm tình và tư thế của cô Maria (x. Lc 10, 38-42).

*  *  *

Chúc mừng Quí Soeurs và Quí Chị Em nhân ngày Phụ Nữ 8/3.
Xin cho Quí Soeurs và Quí Chị Em nhận ra
“những điều cao cả” Chúa đã làm cho Quí Soeur,
và điều cao cả nhất, đó là:
Tạng phủ con chính Người đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con” (Tv 139, 13).
Và xin Chúa tiếp tục làm cho Quí Soeurs “những điều cao cả”,
để Quí Soeur trở nên đáng quí, đáng mến và đáng yêu
đối với Chúa và đối với mọi người, như Đức Maria, Mẹ của chúng ta.

Mến tặng Quí Sœurs và Quí Chị Em

Nhân Ngày Phụ Nữ 08/03/2015
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

__________

[1] Đoạn Thánh Vịnh này không được đưa vào trong sách CGKPV. Nhưng dù sao đây cũng là lời Chúa; và vì là Lời Chúa, chúng ta không nên “kiểm duyệt”!

Comments are closed.