Tu luật Thánh Augustinô – Phần III: Giải thích Tu luật (p.2)

0

Chương 6. XIN LỖI VÀ THA THỨ

Tu luật dành chương thứ VI để nói về tha thứ huynh đệ. Đời sống huynh đệ trong đời tu không phải là đời sống của các thiên thần, nhưng là những con người cụ thể rất thường xuyên vấp ngã, và vì thế cần đến sự tha thứ. Cộng đoàn tu trì không phải là cộng đoàn của các thánh nhân nhưng là những người tìm kiếm đường nên thánh giữa những cái sa ngã và lỗi lầm. Cộng đoàn của các tín hữu tiên khởi cũng thế thôi. Sách Công vụ nói họ “đồng tâm hiệp ý với nhau” (Cv 4, 32), nhưng không bỏ qua tường thuật những xung khắc và sai lầm mà họ đã vấp phải, như sự gian lận của Anania và Saphira (Cv 5, 1-11), sự kỳ thị trong khi phân phát của cải (Cv 6, 1) … Chẳng có gì đáng kinh hoàng nếu trong cộng đoàn đan viện xảy ra những xung đột. Điều tệ hại không phải là tội lỗi đã xảy ra, nhưng là sự chai lỳ trong tội và không nhìn nhận mình đã phạm tội. Ngày nay trong đời tu cũng có nhiều hình thức xung đột riêng, những cuộc chạm trán giữa các ý thức hệ, giữa các quan điểm xã hội khác biệt và tương phản nhau. Những xung đột nội bộ này phản ánh những xung khắc lớn lao bên ngoài xã hội. Đây là một thực trạng khách thể mà ta không thể nhắm mắt làm ngơ. Tu luật không trực tiếp mổ xẻ hết các mối xung khắc ấy, nhưng chỉ cống hiến những quy định giúp cộng đoàn đối phó với các mối bất hoà, nhất là khi liên lụy đến tương quan huynh đệ trong cộng đoàn. Chính những mối tương quan mới là điều quan trọng bởi vì liên hệ đến đức ái.

1. NGĂN NGỪA NHỮNG XÚC PHẠM

Số 41 : “Chị em đừng cãi nhau bao giờ, hoặc nếu xảy ra thì phải chấm dứt cho nhanh, kẻo giận hờn biến thành ghen ghét, cọng rơm hoá thành cái xà làm cho linh hồn chị em thành sát nhân, vì chị em đọc thấy : ‘Ai ghét người anh em mình thì phạm tội sát nhân’ (1Ga 3, 15)”.

Tu luật đối điện với một vấn đề rất tế nhị là cãi nhau, nghĩa là tranh cãi, khắc khẩu giữa các chị em. Tu luật nhắc nhở chị em đừng bao giờ khơi lên, và nếu đã xảy ra thì phải dập tắt ngay; đúng là phương pháp “ngăn ngừa tốt hơn là chữa trị”. Thánh Phanxicô cũng thế, khi thấy xảy ra sự cãi co, người khuyên : “Trước hết hãy giữ im lặng” (Reg. non bollata, XI). Im lặng là thượng sách ! Đây là một lời khuyên thật khôn ngoan và cẩn trọng ! Chắc chắn thánh Augustinô đã biết những người thuộc trường phái Pythagore : khi giận thì họ không hành động, và chờ cho đến khi bình tâm trở lại. Giamblico kể rằng một phần tử của họ tên là Archita Taranto từ chiến trường trở về, ông thấy các tôi tớ chểnh mảng công việc đồng áng, ông nói với họ : “Các anh hãy vui lên bởi vì tôi đang giận dữ !”. Chính vì thế nói về cãi vã thánh Augustinô còn nhắn nhủ : “Chúng ta hãy kết liễu nó trước khi nó kết liễu chúng ta !” (Sermo 206, 2). Người biết tất cả những hậu quả cay đắng, hiểm độc và sức tàn phá của sự cãi vã giữa chị em. Thật vậy, cơn giận không kiềm chế sẽ phát sinh ra bực tức, rồi chẳng mấy chốc mà đưa đến cay cú và ghét bỏ. Đó là kinh nghiệm mà Augustinô học từ các triết gia cổ điển như Cicero (“cơn giận đã già thì biến thành căm ghét”, Tuscolane, IV, 9, 21) : từ giận tới ghét, và ghét tức là giết người (ít là theo nghĩa biểu tượng, nếu chưa tới nghĩa thể lý). Điều này giải thích lời khuyên khôn ngoan của Augustinô : “Nếu lòng bạn nổi nóng thì hãy thôi ngay”. Tuy người biết có thứ nóng giận “hợp pháp” (chẳng hạn như sự nóng giận của các ngôn sứ, của các thánh và của chính Chúa Giêsu), nhưng phải là bậc thánh cao mới có thể giữ chừng mực được, theo lời khuyên của thánh Phaolô : “Anh em hãy nóng giận nhưng đừng phạm tội” (Ep 4, 26; Tv 4, 5), hoặc như thánh Tôma Aquinô phân biệt giữa “nói do hăng say” (là điều không được phép) và “nói với hăng say” (thì được). Thực tế, có ai cầm giữ được mực thước lúc nóng giận, vì thế phải liệu cách dẹp ngay. Một hậu quả tai hại khác của giận dữ thái quá là sự phóng đại, biến “cái rác thành cái xà” như Tu luật đã đề cập tới, một chuyện tầm thường trở thành một thảm kịch. Thánh Augustinô chứng tỏ mình là một nhà tâm lý tinh tế. Thật vậy, khi tức giận, ta giống như người mang cặp kính râm và thấy mọi sự đều đen tối.

2. XIN LỖI VÀ THA THỨ CHO NHAU

Số 42 : (a)Ai xúc phạm người khác bằng lời nhục mạ, nói xấu hoặc bới móc, thì hãy lo sửa chữa càng sớm càng tốt. (b) Còn người bị xúc phạm hãy tha thứ, đừng chấp nhất. (c) Nếu xúc phạm đến nhau thì phải tha thứ cho nhau, vì những lời cầu nguyện của chị em, mà càng năng đọc bao nhiêu thì càng phải chân thành bấy nhiêu. (d) Người dễ giận nhưng mau xin lỗi kẻ mà mình đã xúc phạm, thì tốt hơn là người chậm giận và chậm xin lỗi. (e) Người không bao giờ muốn xin lỗi hay xin lỗi không thật lòng, dù không bị loại ra thì cũng chẳng có lý do ở lại trong đan viện. (f) Vì thế chị em hãy tránh dùng những lời lẽ nặng nề cứng cỏi. Ai lỡ miệng thì đừng ngại dùng chính miệng mình làm phương được để chữa lành những vết thương đã gây ra.

a) Đối với Tu luật, không thể có sự xúc phạm nào vô phương cứu chữa, bởi vì luôn luôn có phương dược chữa lành, đó là tha thứ. Khoản luật chúng ta đang phân tích không nói đến những vụ xích mích bằng vũ lực là điều không thể tưởng tượng trong cộng đoàn tu trì, nhưng nói về những xúc phạm bằng lời nói, và dĩ nhiên lỗi phạm này kéo theo những cái khác. Chính Đức Giêsu đã tỏ ra nghiêm khắc khi đụng đến tình yêu huynh đệ; ngài không chấp nhận bất cứ sự xúc phạm nào dù chỉ nhỏ bé. Ngài lên án cách ăn nói sống sượng và thiếu tôn trọng anh em, tựa như gọi anh em mình là “đồ khùng”, “đồ ngốc” (Mt 7, 22). Khi có lỗi, Tu luật mời gọi chị em xin lỗi ngay, sớm hết sức có thể. Chừng nào ? Thánh Tông đồ trả lời là ngay chính ngày hôm đó : “đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Nói cách khác, người Kitô hữu không được đi ngủ trước khi hoà giải với anh em bị xúc phạm. b) Còn về phía người bị xúc phạm thì sao ? Khuynh hướng tự nhiên của người bị xúc phạm là ấm ức và đòi hỏi được đền bù. Tu luật khuyên họ hãy tha thứ bỏ qua, “đừng chấp nhất”. Giả như mình xin lỗi rồi mà người kia vẫn không tha thứ thì sao ? Thánh nhân dạy : “đừng lo” (noli esse sollicitus, Serm. 211, 4, 4), nghĩa là đành chịu vậy chứ biết sao được ! Người cũng không khuyên kẻ bị xúc phạm hãy đi bước trước xin lỗi người đã xúc phạm mình, bởi vì điều ấy có vẻ như không thật lòng. Cùng lắm là nhờ một người thứ ba làm trung gian, kẻ “xây dựng hoà bình” giục người có lỗi hãy đi xin lỗi (Serm. 211, 6, 5). c) Chị em phải tha thứ cho nhau vì “lời cầu nguyện”, nghĩa là lời Kinh Lạy Cha mà chị em đọc đi đọc lại hàng ngày : “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12). Thánh tiến sĩ Hội thánh Augustinô nói rất nhiều đến Kinh Lạy Cha giống như một loại “hành vi ăn năn tội cách trọn” và “dốc lòng chừa” (Serm 56, 9, 13; 211, 3, 3…). Người gán cho Lời Kinh một khả năng thanh luyện mà ngày hôm nay chúng ta rất ít khi cảm nhận, và vì thế cần phải khôi phục lại. Kinh Lạy Cha vừa là lời khẩn cầu vừa là lời cam kết : “Phải để cho kinh Lạy Cha được triển khai mà không gặp bất cứ trở ngại nào, dẫn ta tới chỗ ‘tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’. Anh em hãy coi chừng sao cho lời kinh này không bị khựng lại vì sợ hãi, hoặc bị lương tâm ép buộc phải khép miệng” (Sermo 208, 2). Nếu chúng ta không sẵn sàng tha thứ cho chị em thì Kinh Lạy Cha sẽ trở thành lời nói dối. Chính vì thế mà Tu luật yêu cầu đọc kinh cách chân thành; không thể đọc cách máy móc cho qua lần chiếu lệ, “miệng đọc lời nào lòng phải suy lời ấy” (số 12). Có người sẽ chất vấn : thế mà chúng ta vẫn cứ đọc kinh ấy hoài đấy chứ ? Thánh Augustinô trả lời : “Chị em càng năng đọc bao nhiêu thì càng phải chân thành bấy nhiêu”. Nói tóm lại : “Nếu bạn muốn đọc Kinh Lạy Cha với lương tâm an bình, bạn hãy làm như lời Kinh dạy” (In Ps 103, 19). d) Tác giả sành tâm lý, biết rằng không dễ gì mà xin lỗi : xin lỗi còn khó hơn tha lỗi nữa ! Hơn thế, trong việc xin lỗi, người có tính “hướng ngoại” thì dễ xin lỗi hơn là người có tính “hướng nội”. Dù sao đi nữa, thà “dễ lên cơn” còn hơn là “âm ỉ trong lòng”, hay nói theo nguyên văn bản luật : “Người dễ giận nhưng mau xin lỗi kẻ mà mình đã xúc phạm, thì tốt hơn là người chậm giận và chậm xin lỗi.” [Có bản thêm vào chỗ này : “Người từ chối tha thứ cho chị em thì không hy vọng nhận được kết quả của lời cầu nguyện”.Thật vậy, ai khép mình lại với người chị em là khép mình lại với Chúa. Người đó sẽ đánh mất hoa trái đầu tiên của lời cầu nguyện. Ai không tha thứ cho chị em mình thì sẽ không được Thiên Chúa thứ tha (Mt 6, 14-15; 18, 21-35). Ai không hiệp thông với chị em mình thì không thể hiệp thông với Cha (Mt 5, 23-24; 28, 19-20).] e) Một người không muốn sống hiệp thông với cộng đoàn thì còn đáng ở lại trong cộng đoàn nữa không ? Người không bao giờ muốn xin lỗi hay xin lỗi không thật lòng, dù không bị loại ra thì cũng chẳng có lý do ở lại trong đan viện”. Thật vậy, động cơ chính yếu của đời sống trong cộng đoàn là “sống một lòng một ý với nhau trong một nhà” (số 3). Nếu anh nhạc công không muốn tiếp tục tham gia buổi hoà tấu với các đồng nghiệp thì ở lại dàn nhạc mà làm gì ? Thế thì tại sao Tu luật lại không ra lệnh trục xuất người chị em này ra khỏi dòng ngay tức khắc ? Thưa vì có lẽ biện pháp đe doạ ấy sẽ chỉ tạo ra sự tha thứ ở bề mặt mà thôi, nghĩa là gượng ép giả hình, chứ không thực lòng. Nhưng thánh nhân rất sợ sự giả hình, đến nỗi không chần chờ khẳng định rằng thà bỏ tu còn hơn là ở trong dòng mà không thật lòng : “Không tuân thủ lời cam kết là một điều xấu, nhưng giả vờ tuân giữ lại càng tệ hơn nữa” (Serm 356). Như vậy đối với thánh nhân, mọi tội lỗi đều là bệnh tật, nhưng sự giả hình là cái chết. Tác giả Tu luật biết rằng không thể nào diệt hết mọi thứ xung khắc trong cộng đoàn. Đây là dịp để thực tập đức bao dung, cũng như xưa kia Chúa Giêsu chịu đựng Giuđa là tên lừa đảo phản bội, hoặc thánh Phaolô chịu đựng những người thọc gậy bánh xe (Ep. 43,8,23). Trong trường hợp có những xung khắc, không buộc phải loại trừ khỏi cộng đoàn những kẻ gây xích mích; nhưng cộng đoàn không thể nào dung túng những kẻ nuôi lòng hận thù, không biết tha thứ, bởi vì họ phá vỡ nền tảng của đời sống cộng đoàn, đó là dự án sống hiệp thông trong yêu thương. f) Để kết luận, Tu luật khuyên chị em hãy dùng miệng lưỡi chữa lành vết thương, như nhà hiền triết trong Thánh Kinh khuyên nhủ : “Đừng để bị mang tiếng là người bép xép, cũng đừng ăn nói quanh co. Vì nếu ăn trộm là điều nhục nhã, thì nói lời hai ý còn đáng lên án gắt gao hơn” (Hc 5, 14). Nếu ở chương IV thánh Augustinô nói đến kỷ luật của con mắt thì ở đây bàn về kỷ luật của cái lưỡi. Cái miệng thì hay tấn công gây gỗ người khác, còn con mắt hướng về dục tình, và vì thế bắt đầu một thảm kịch ! Do đó, Tu luật căn dặn : tốt hơn là đừng khơi lên … “đừng dùng những lời lẽ nặng nề cứng cỏi”, nhưng biết rằng rất nhiều khi ta không thể kiềm chế miệng lưỡi và để cho nó bùng nổ, cho nên tác giả khuyên hãy dùng chính miệng lưỡi đã xúc phạm đến người khác mà chữa lành vết thương.

3. KHI NHÀ HUẤN LUYỆN QUÁ LỜI

Số 43 : (a) “Nhưng khi vì nhu cầu kỷ luật buộc lòng chị em phải dùng những lời cứng cỏi để sửa chữa cách ăn nết ở của người dưới, thì dù thấy mình quá lời, cũng không đòi chị em phải xin lỗi, kẻo sự khiêm nhường quá mức sẽ làm phương hại đến uy tín của người hướng dẫn. (b) Nhưng bấy giờ hãy xin lỗi Đấng là Chúa của mọi người, Ngài biết rõ là dù chị em có sửa trách quá lời, cũng chỉ vì yêu thương mà thôi. Nơi chị em, lòng yêu thương không phải theo tính xác thịt, nhưng là theo Thần Khí”.

a) Để hiểu khoản luật này, chúng ta hãy nghĩ đến bối cảnh của các đan viện Bắc Phi thời đó. Trong các đan viện có các thỉnh sinh, thậm chí có cả trẻ em nữa, do các bậc cha mẹ đã dâng con cái mình cho Chúa và dẫn đến các đan viện. Các em phải theo chương trình huấn luyện và được dạy dỗ của “trường đan tu”. Vì thế, “những người dưới” (minores) được nói ở số này là những tu sĩ trẻ còn đang ở trong giai đoạn huấn luyện, còn “người hướng dẫn” (regendi auctoritas) có lẽ là những người có thẩm quyền dạy dỗ. Khoản luật này nhắm đến những người có trách vụ huấn luyện, nghĩa là những nhà giáo dục. Nhưng trong việc giáo dục, thật khó tránh được những lời khiển trách nặng lời (đôi khi với ý tốt). Nếu người huấn luyện lỡ dùng những lời lẽ cứng rắn để sửa dạy huấn sinh thì Tu luật không buộc họ phải xin lỗi. Qui định này có thể gây cho một số người trong chúng ta ngày hôm nay phản ứng lại, bởi vì thấy vi phạm tinh thần dân chủ : Tại sao Tu luật luôn luôn tìm cách bênh vực những người có quyền thế dù họ phạm lỗi ? Nếu nhà huấn luyện biết nhận lỗi và xin lỗi người thụ huấn thì không đáng được trân trọng sao ? Họ có thực sự bị mất uy tín không, hay trái lại họ sẽ không còn nhạy bén nhận ra lỗi lầm của mình nữa bởi vì đã có Luật bảo vệ họ rồi ? Thực sự thánh Augustinô luôn nhiệt thành trong việc bảo vệ quyền bính, nhưng không phải cá nhân người cầm quyền cho bằng chức năng của quyền bính : quyền bính là một dịch vụ cần thiết trong bất cứ cộng đoàn nào. Do đó xúc phạm đến nguyên tắc của quyền bính là làm tổn thương đến chính cộng đoàn. Đây cũng chính là vấn đề giữ uy tín cho nhà giáo dục. Thật vậy, vì chưa được trưởng thành cho nên học sinh có thể coi cử chỉ khiêm tốn của thầy giáo như là sự nhu nhược và do đó thầy giáo mất uy tín. Như thế thì làm sao tiếp tục công việc giáo dục được nữa ? Thật đúng như vậy, Tu luật đang bàn đến một sai lầm về sư phạm chứ không phải là một tội lỗi luân lý : nói một lời quở trách nặng với kẻ thụ huấn chứ không phải là xúc phạm đến nhân vị của người đó. Trong trường hợp thứ hai, xin tha thứ lỗi lầm là con đường luân lý thường tình. Dù vậy, Tu luật không buộc nhà giáo dục phải xin lỗi khi đã quá lời khiển trách, nhưng cũng không cấm làm điều đó. Điều quan trọng là trong bất cứ trường hợp nào, phải bảo đảm những điều tốt nhất cho người tu sĩ đang trong giai đoạn huấn luyện. Trong một bài giảng mùa chay, thánh Augustinô đối diện với trường hợp một ông chủ đã xúc phạm tới đứa nô lệ. Nếu ông chủ xin kẻ làm tôi tha thứ cho mình thì đó là một mối nguy cho hắn vênh vang và coi thường. Vậy thì phải làm gì ? Người bảo : “Hãy thanh tẩy tâm hồn trước nhan Chúa và dành cho tên nô lệ những lời nói và cử chỉ thật đáng yêu. Thật vậy, nói một điều dễ thương cũng chính là hành vi xin lỗi rồi” (Serm. 211, 5, 4). Vâng, đây chính là cung cách tốt đẹp mà nhà huấn luyện cần phải có để xin lỗi : làm một cử chỉ yêu thương đối với người thụ huấn bị xúc phạm. b) Dù sao cần phải luôn luôn nhận biết lỗi lầm của mình trước mặt Chúa, như Kinh Lạy Cha đã dạy. Thật vậy, tha thứ luôn là một ơn ban từ trên cao, vì thế cần phải cầu xin Chúa. Trước đây, Tu luật cũng đã nói “hãy cầu nguyện” cho một người lỗi phạm về khiết tịnh và đã nhận biết lỗi lầm (số 29). Tu luật còn giả thiết hình ảnh tốt đẹp về nhà huấn luyện : nếu người ấy đã có lời sửa dạy quá đáng thì cũng chỉ vì yêu thương các chị em đang trong giai đoạn huấn luyện. Từ đó, tác giả mở rộng ra thành một quy tắc tổng quát là : “Nơi chị em lòng yêu thương không phải theo tính xác thịt, nhưng là theo Thần Khí”. Tại sao ở đây lại có chuyện bài trừ “tình yêu xác thịt” (dilectio carnalis) ? Có lẽ thánh Augustinô nhắc nhở những huấn luyện viên đừng để những người thụ huấn quá gần gũi, xuề xoà với mình đến nỗi làm mất uy tín của nhà huấn luyện. Họ phải yêu thương người thụ huấn, nhưng đừng rơi vào thứ cảm tình tự nhiên “theo xác thịt” và thiếu biện phân trong Thánh Thần. Một học giả nổi tiếng dòng Biển Đức Dom Lambot lại nghĩ rằng khoản luật này cảnh báo về tội đồng tính luyến ái với nhau cũng có thể xảy ra. Có lẽ ý kiến này dựa theo bản Tu luật đi kèm trong lá thư nổi tiếng số 211 gửi cho các nữ đan sĩ tại Híppô (lá thư mà người ta vẫn đang còn tranh luận về tính xác thực) : “Một vài thói ăn ở suồng sã, dù là giữa đàn bà với nhau, chẳng hạn như đùa giỡn không đoan trang và các trò chơi khác thiếu đứng đắn (jocando turpiter et ludendo), thì không phù hợp chút nào với những người lập gia đình hoặc sống độc thân, và lại càng không được phép với những người sống đời thánh hiến” (Ep. 211, 14). Dù hiểu theo thế nào chăng nữa, thì điều Tu luật mong muốn là tất cả những quan hệ giữa các tu sĩ (dù nam hay nữ) với nhau phải được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần chứ không do bản năng thúc đẩy. Như vậy trong việc sửa dạy người thụ huấn, cần phải có “lòng yêu thương theo Thần Khí” để tránh khỏi quá đà hoặc khi khiển trách hoặc khi xin lỗi, kẻo mất “uy tín nhà giáo dục” gây thiệt hại cho sự tăng trưởng của tu sĩ trẻ. Nếu điều đó xảy ra tức là thiếu yêu thương đối với học trò hoặc là “yêu theo xác thịt”, yêu không đúng lối. Như vậy “tình yêu xác thịt” là tình yêu không chính đáng, còn “yêu theo thần khí” là yêu trung thực, tình yêu được Thần Khí hướng dẫn. Điều này được nhắc lại trong bối cảnh của việc giáo dục. Vì mục đích của việc huấn luyện là giúp cho người thụ huấn lớn lên, và đôi khi sự giáo dục đòi hỏi vài cử chỉ xem ra trái ngược với tình thương. Tu luật nhắc nhở rằng tình yêu theo Thần Khí (nghĩa là thứ tình yêu trung thực) gây ra đau khổ, nhưng đó là nỗi đau mang lại sức chữa lành (x. Is 49,15; 66,12-13), giống như tình yêu nhân bản phát xuất từ trái tim thần linh của Đức Kitô.

1 2 3

Comments are closed.