Tu luật Thánh Augustinô – Phần III: Giải thích Tu luật (p.2)

0

Phần III:  GIẢI THÍCH TU LUẬT (tiếp theo)

Chương V. SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG VÀ CHĂM SÓC THÂN THỂ

Chương V này bàn những chuyện rất thực tế và cụ thể của cộng đoàn như y phục, lao động, tắm giặt và những dịch vụ khác. Điều quan trọng và đáng chú ý là tất cả những dịch vụ hàng ngày và tầm thường này cũng là phần áp dụng của hai nguyên lý chính yếu và chủ đạo hơn cả trong Tu luật, đó là “để mọi sự làm của chung” và “phân phát theo nhu cầu”.
1. Y PHỤC

Số 30 : (a) Y phục của chị em phải để chung một nơi cho một, hoặc hai hay nhiều người coi sóc để mối mọt khỏi làm hại. Và chị em có kho chung để cất thực phẩm thế nào thì cũng phải có phòng chung để y phục như vậy. (b) Nếu có thể, chị em đừng lo đòi hỏi y phục hợp mùa, cũng đừng bận tâm xem có phải là áo mình đã thay trước hay người khác đã mặc, miễn sao ai cần gì thì không bị từ chối. (c) Nhưng nếu vì sự phân phối đó mà chị em phân bì lẩm bẩm với nhau, và có người phàn nàn vì nhận được y phục xấu hơn trước, hoặc bực tức vì không được mặc như chị em khác, lúc đó chị em hãy xét xem chị em thiếu y phục thánh trong tâm hồn biết là dường nào khi cãi vã vì y phục phần xác. (d) Nhưng nếu vì khoan nhượng với yếu đuối mà chị em được lãnh y phục mình đã mặc trước thì cũng phải để áo thay ra một nơi có người chăm sóc chung.

(a) Cả y phục cũng được đưa vào nguyên tắc cơ bản “mọi sự làm của chung”. Quy tắc để quần áo vào một chỗ chung cũng được áp dụng cho đồ ăn thức uống; và nhà kho chung để thực phẩm cũng phải tương ứng với phòng chung giữ y phục. Ngoài ra luật còn định đoạt việc coi sóc và lưu giữ quần áo. Yêu cầu này không phải là không có ích, bởi vì người ta dễ rơi vào chước cám dỗ chểnh mảng không biết gìn giữ của chung, theo như một nguyên tắc của kẻ ích kỷ : “Cái gì thuộc về tất cả thì cũng là của tôi”, kèm theo một nguyên tắc nữa là: “Cái gì không thuộc về ai hết là của tôi”. (b) Phần thứ hai của khoản này áp dụng nguyên tắc cơ bản thứ hai: “phân phát đồ dùng tương xứng theo nhu cầu”. Ai sẽ phân phát y phục cho chị em ? Chắc chắn là bề trên như Luật đã quy

định trong chương thứ I (số 4). Nhưng Bề trên không bao giờ được từ chối các chị em có nhu cầu. Việc phân phát của ăn áo mặc và đồ dùng quả là điểm rất được Luật lưu ý cho nên đã nhấn mạnh đến 7 lần (số 4 hai lần; số 6, 30b, 32a, 37 và 40). Nhu cầu của chị em ở đây không nhất thiết phải là những cái thiết yếu sống còn như đồ ăn, y phục, nhà ở, sức khoẻ và văn hoá cơ bản, mà còn là những điều cần thiết tuỳ theo những hoàn cảnh mỗi thời, chẳng hạn như ngày nay : phương diện di chuyển, máy vi tính, vv… Như vậy quan niệm sống khó nghèo của đời tu được hiểu như là “con đường trung dung” giữa nếp sống dư thừa và hoàn cảnh thiếu thốn. Tuy nhiên con đường này tuỳ thuộc vào xã hội và mỗi cá nhân, như Luật dạy : “không phải mọi người đều có sức khỏe như nhau” (số 4). Tất cả những người thánh hiến có nhu cầu cá nhân cần thiết tuỳ theo mức độ được lượng định trong bối cảnh của cuộc sống thanh đạm và khả năng khổ chế của mỗi người. Nhưng ta đừng quên rằng Luật lại còn thêm một điều hệ trọng là: “nếu có thể”. Thật vậy, không dễ gì áp dụng nguyên tắc phân phát áo mặc như áp dụng cho đồ ăn thức uống. Có lẽ chúng ta sẽ ít gặp khó khăn nếu tất cả mọi người cùng dùng chung một tu phục như trong quá khứ. Nhưng ngày nay có rất nhiều tu sĩ ăn mặc theo kiểu dân phục thì không thể dùng chung quần áo được. Quần áo được xem như một sự kiện rất cá nhân, biểu lộ “cái tôi xã hội” của mỗi người. Ngoài ra, ngày nay quần áo không phải là món hàng tiêu thụ hiếm hoi và đắt giá như trong thế giới xưa. Có rất nhiều nhà máy may mặc bành trướng và tung ra thị trường sản phẩm của họ để đến được với quần chúng. Thế thì Tu luật đòi hỏi chúng ta điều gì ? (c) Tu luật rất thực tế, biết rằng giữa chị em có sự cãi vã kêu ca về vấn đề y phục. Nhưng hễ đã đòi y phục may cắt hợp với kích thước thì đã len lỏi ý tưởng làm dáng làm đẹp rồi đó. Dựa vào điểm này ông Erasmo đã đưa ra giả thuyết Tu luật được viết cho giới nữ. Lại một lần nữa cho chúng ta thấy những điều rất vật chất xem chừng nhỏ mọn, nhưng gây nên những rắc rối và xích mích trong cộng đoàn. Các buổi hội họp đều diễn ra êm đẹp cho đến khi bước sang mục quản trị tài sản. Nếu điều đó xảy ra trong một cộng đoàn đan tu thì tất nhiên cũng xảy ra ngoài xã hội. Thánh Phanxicô Assisi đã từ bỏ tất cả tài sản để đi theo Chúa, nhưng Đức hồng y Ugolino đã hết sức nài nỉ ngài nhận lại một ít tài sản làm sở hữu cho cộng đoàn tiên khởi của ngài, nhưng thánh nhân trả lời : “Không được, bởi vì ngày nào chúng tôi có sở hữu riêng, ngày đó chúng tôi bị bó buộc phải yêu chúng và lệ thuộc vào chúng”. Đối diện với những khó khăn của việc “thông hiệp về ý phục”, Tu luật tỏ ra mềm dẻo chứ không cứng nhắc, nghĩa là chỉ nhắc nhớ một bài học luân lý : những ai còn cãi nhau về y phục phần xác thì chứng tỏ rằng còn xa vời với “y phục thánh thiện trong tâm hồn”, nguồn mạch của nét đẹp chân chính ! Ở số 19 đã viết rằng điều quan trọng trên đời là cung cách chứ đâu phải là quần áo. (d) Đến đây Tu luật tỏ ra nhượng bộ : “Nhưng nếu vì khoan nhượng với yếu đuối mà chị em được lãnh y phục mình đã mặc trước thì cũng phải để áo thay ra một nơi có người chăm sóc chung”. Luật dự trù khoản trừ, cho phép chị em có thể dùng lại y phục mà mình đã mặc trước. Sự khoan dung như thế là vì “sự yếu đuối” của chị em. Đây chính là cái nhìn thông thoáng của Tu luật, tôn trọng cá tính của mỗi người và biểu lộ ý nghĩa của lòng thương xót. Dù quần áo được phân phát còn chiều theo tính tình của mỗi người, Tu luật vẫn giữ lại quy tắc bảo vệ tinh thần cộng đoàn chung : “phải để một nơi có người chăm sóc chung”.Đối với thời đại kỹ nghệ hôm nay, khoản luật này có ý nghĩa gì ? Kiến thức trong ngành y khoa thuyết phục chúng ta hãy gìn giữ vệ sinh cá nhân và ngăn ngừa phòng bệnh bằng cách sử dụng những đồ dùng riêng. Phải chăng nguyên tắc “để mọi sự làm của chung” chỉ được áp dụng cho một số đồ dùng như : chén dĩa, giường chiếu ? Đời tu của mỗi cá nhân chúng ta càng ngày càng bị bao vây bởi những thứ cồng kềnh, tầm thường, vô giá trị. Yếu tố quan trọng là tìm ra tinh thần của khoản luật nằm ở bên dưới : lý tưởng hiệp thông trong của cải vật chất là ngôi sao bắc đẩu hướng dẫn soi đường. Chắc chắn chúng ta chẳng bao giờ đến đích điểm đó được, nhưng đó là một định hướng để chúng ta sử dụng và tư hữu của cải đúng mức cần thiết; tìm kiếm y phục trong tâm hồn, chống lại mọi thứ cám dỗ chạy theo thời trang; mở rộng lòng mình trước những giới hạn của chị em chưa biết sống khổ chế thực sự. Khi nào chúng ta thâm tín những giá trị căn bản này, thì sẽ tìm thấy những phương thế xử sự cụ thể, tựa như hoa trái đâm ra từ cành cây.
2. LAO ĐỘNG VÀ ÍCH CHUNG

Số 31 : “Đừng ai làm việc vì tư lợi nhưng hết mọi việc phải nhắm đến công ích, và làm một cách chăm chỉ, siêng năng và nhanh nhẹn hơn khi làm cho riêng mình. Thật vậy, như đã viết ‘đức ái không tìm tư lợi’ (1Cr 13, 5), phải hiểu là nhân đức ấy đặt việc chung lên trên việc riêng chứ không đặt việc riêng trên việc chung. Vậy càng lo cho công ích hơn tư lợi bao nhiêu, chị em càng thấy mình tiến bộ về sự trọn lành bấy nhiêu. Trong việc sử dụng những cái cần thiết chóng qua thì hãy làm trổi vượt điều duy nhất trường tồn, đó là đức ái “.

Khoản luật này nói về lao động, tuy ngắn gọn nhưng cũng có tầm quan trọng lớn lao. Trong phần trước, Tu luật bàn đến những kẻ sống “trưởng giả” trong nhà dòng, tìm kiếm những đảm bảo kinh tế, đòi hỏi và tạo nên nhiều nhu cầu mới. Thánh Augustinô đã viết một tác phẩm về “chế độ ăn bám” tồn tại trong tu viện, với nhan đề De opere monachorum (khoảng năm 400). Những người đi tu thời đó gồm những người thuộc hạng cùng đinh trong xã hội và những nhà quý tộc, và xảy ra là “trong khi những nghị sĩ trở thành những người lao động, thì những người nghèo khó thấp hèn lại biến thành những kẻ lười biếng” (De opere monachorum, 25, 33). Tệ hơn nữa trong các cộng đoàn ở Cartago có một lý thuyết thần học đang thịnh hành biện minh cho sự an nhàn trong đời tu. Các luận cứ của họ trưng ra là : phó thác cho Chúa quan phòng, bắt chước chim trời (Mt 6, 25-34), và nhất là opus Dei, “làm việc cho Chúa” hệ tại cầu nguyện, đọc lời Chúa, đón tiếp và hướng dẫn tâm linh cho các giáo dân. Tuy nhiên nhà thần học Augustinô mỉa mai lối sống thoải mái này : “Còn những người không muốn làm việc bằng đôi tay của mình thì làm gì bây giờ ? Tôi muốn biết họ đang bận tâm đến cái gì. Họ đang bận cầu nguyện, hát thánh vịnh, đọc sách và giảng Lời Chúa. Ôi nếp sống thánh thiện biết bao ! Ôi sự ngọt ngào êm ái của Đức Kitô ! Nhưng tuy không bao giờ được bỏ rơi những công tác đó, có lẽ chúng ta cũng được miễn ăn và nghỉ nấu bếp nữa chứ !” (De opere monachorum 17, 20). Vị thánh tiến sĩ của chúng ta bài trừ thói ăn bám của các tu sĩ bằng lời kết án của thánh Phaolô : “Ai không làm thì đừng có ăn !” (2Tx 3, 10). Khoản luật này không miễn trừ cho các tu sĩ trước kia là những người giàu có : “Cả họ cũng làm việc với đôi tay của mình. Như vậy họ không sẽ cất dịp chữa mình cho những kẻ lười biếng xuất thân từ cuộc sống thấp hèn và đã quen với những công việc nặng nhọc” (De opere monachorum 25, 33). Đối với thánh Augustinô, công việc tay chân chỉ có thể được thay thế bằng công việc cần cù khác như công tác mục vụ và lao động trí óc (học hành và giảng dạy), Có lẽ vì hai hoạt động này chiếm nhiều thời gian, cho nên chính thánh nhân cũng thú nhận là người muốn theo gương của thánh Phaolô, vừa rao giảng Tin mừng vừa làm việc tay chân (x. Cv 20, 34-35; 1Cr 9, 12) : “Đối với tôi, tôi thích làm việc tay chân hơn là đeo vác gánh nặng của công việc mục vụ” (De opere monachorum 29, 37). Thánh Biển Đức cũng có một phương châm nổi tiếng là ora et labora (cầu nguyện và lao động) như được ghi trong Tu luật (chương 48). Tu luật thánh Phanxicô cũng yêu cầu anh em làm việc (Regola bollata, V). Trong lời di chúc, người nói : “Tôi đã lao động bằng đôi tay và tôi muốn lao động; tôi cũng muốn tất cả anh em khác hãy làm việc, vì sự liêm khiết đòi hỏi như vậy. Ai không biết làm việc thì hãy học cách làm việc…” (Test. 22). Luật thánh Augustinô giả thiết rằng lao động là một nghĩa vụ, và chỉ xác định thêm tinh thần khi làm việc. Cần phải luôn luôn đặt lý tưởng cộng đoàn lên trên hết; vì thế đừng ai làm việc cho mình nhưng cho công ích, và với tất cả lòng hăng say hơn là khi làm việc cho chính mình. Đến đây, chúng ta gặp thấy một nguyên tắc khác tạo nên tinh thần của toàn bộ Tu luật, đó là coi trọng công ích hơn tư lợi. “Thật vậy, như đã viết ‘đức ái không tìm tư lợi’ (1Cr 13, 5), phải hiểu là nhân đức ấy đặt việc chung lên trên việc riêng chứ không đặt việc riêng trên việc chung”.Thánh Augustinô đã biết đến truyền thống luân lý cao cả của thế giới cổ đại qua tư tưởng của Cicero, đó là: đăt ích lợi chung lên trên ích lợi riêng (Cicero, De officiis, 1, 62; 1, 85; 3, 21; 3, 26; 3, 101). Thật vậy những người Rôma ngày xưa hoạ lại đời sống của họ theo nguyên tắc đó; vì thế thánh nhân nhắn nhủ các đan sĩ đừng hãnh diện tưởng rằng mình hơn người. Tuy các đan sĩ có thể học hỏi rất nhiều từ tấm gương của cổ nhân, nhưng điều quy chiếu căn bản vẫn là Kinh thánh. Thực vậy, thánh Phaolô đã viết : “Đức ái thì không tìm tư lợi” (1 Cr 13, 5). Tình yêu chân chính không tìm ích riêng cho mình. Augustinô phân biệt rất rõ giữa “tình yêu tư riêng”, ích kỷ, khép kín và “tình yêu xã hội”, hướng về tha nhân và mở rộng. Cái thứ nhất thì yêu mình, còn cái thứ hai thì yêu người. Như vậy đặt tình yêu chung lên trên tình yêu riêng là hệ luận rất hợp lý của tình yêu Kitô giáo, tình yêu agapé. Khoản luật này còn giá trị gì đối với đời tu của chúng ta hôm nay chăng ? Cá nhân tu sĩ đã phục vụ cộng đoàn như thế nào ? Dòng đã đóng góp cho Giáo hội địa phương và Giáo hội hoàn vũ như thế nào ? Dĩ nhiên là ích lợi cá nhân chỉ lệ thuộc chứ không bị bóp nghẹt bởi ích lợi của cộng đoàn. Khi có ai đó khẳng định rằng cộng đoàn phải ở dưới cá nhân, thì phải hiểu là họ đang nói về cơ cấu của cộng đoàn chứ không phải là cộng đoàn huynh đệ. Tu luật viết tiếp : “Vậy càng lo cho công ích hơn tư lợi bao nhiêu chị em càng thấy mình tiến bộ về sự trọn lành bấy nhiêu”. Đây là một tiêu chuẩn hơi lạ của đời sống tâm linh ! Sự quan tâm đến việc chung hơn việc riêng là dấu chỉ cho thấy đã tiến tới đời sống trọn lành của đời tu hay sao ? Thế còn đời sống nội tâm, tuân giữ các lời khấn, tình huynh đệ, khổ chế, sứ vụ thì sao ? Có lẽ chỉ có Tu luật Augustinô mới đề ra một tiêu điểm độc đáo cho đời sống tâm linh như vậy : càng là Kitô hữu bao nhiêu thì càng phải có tình huynh đệ bấy nhiêu; càng ích kỷ bao nhiêu thì đời sống tâm linh càng thấp bấy nhiêu. Tác giả Tu luật giúp chúng ta điều chỉnh vài quan điểm lệch lạc trong đường nên thánh : có những tu sĩ tỏ vẻ đạo đức và khổ hạnh cao độ, đôi khi còn muốn tự phô trương nữa, coi mình như cái rốn của vũ trụ. Một thứ thánh thiện mà chỉ quan tâm đến bản ngã thì đâu phải là thánh thiện chân thực ? Số 31 kết thúc như sau : “Trong việc sử dụng những cái cần thiết chóng qua thì hãy làm trổi vượt điều duy nhất trường tồn, đó là đức ái”. Đây chính là cột trụ của toà nhà thiêng liêng và nhân bản : đức ái. Tình yêu nằm ở trung tâm và ở trên hết tất cả. Chính tình yêu thì kiên vững trường tồn, làm cho mọi vật có giá trị, là linh hồn và nguyên lý sự sống của muôn loài, là cái duy nhất còn tồn tại. Đức ái nâng cao giá trị cho những hành vi nhỏ bé, tầm thường hoặc những dịch vụ phục vụ các nhu cầu “tạm bợ” tựa như : nâu nướng, lau chùi, tẩy rửa, giặt ủi, dọn dẹp nhà cửa…. Đức ái linh hoạt và bảo tồn tất cả. Công đồng Vaticanô II cũng tái xác nhận đạo lý của thánh Phaolô về đức ái : “Đức mến và các hoạt động do đức mến thúc đẩy sẽ tồn tại (xc. 1Cr 13,8; 3,14), và mọi loài thụ tạo mà Thiên Chúa đã dựng nên vì con người, sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư ảo nữa (x. Rm 8,19-21)”[15]Chính tình yêu là thước đo để lượng giá mọi thái độ và cung cách làm việc của chúng ta, nhất là những công việc hàng ngày.
3. MỘT TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH CỦA “LUẬT HIỆP THÔNG”

Số 32 : “Do đó khi có ai gửi cho con cái mình hoặc những người họ hàng đang sống trong đan viện y phục hay bất cứ đồ dùng nào khác, thì không được nhận cách lén lút, nhưng phải nộp cho bề trên để làm của chung và phân phát cho ai cần”.

Đây là trường hợp đặc trưng áp dụng cụ thể nguyên tắc tổng quát và then chốt : trước hết là làm cho công ích, và sau là tư lợi. Tu luật không chấp nhận khoản trừ, dù đó là những vật dụng cần thiết hoặc quà tặng do những người thân yêu. Phải luôn luôn áp dụng nguyên tắc chung về sự hiệp thông tài sản, nghĩa là: quà nhận được thì để cho mọi người dùng chung và phân phối theo nhu cầu chị em trong cộng đoàn, bởi vì theo Tin mừng (Mc 3, 31-35) mối dây liên hệ huyết tộc trong gia đình cũ không được trổi hơn tình nghĩa thiêng liêng trong gia đình mới là đan viện. Đứng trước một khoản luật triệt để như vậy, nhiều người cảm thấy lúng túng. Ví dụ, chị tôi tặng cho tôi một cái áo lót, tôi phải nộp cho bề trên để bề trên phân phát cho chị em khác đang cần ? Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu đúng đắn tinh thần của luật, đừng biến một trường hợp cụ thể thành một định luật tổng quát. Tác giả trưng dẫn một “hoàn cảnh ngoại thường” nhằm làm khuôn mẫu mực cho một lý tưởng, tựa như lời giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi : “Nếu ai vả anh má bên phải…; và nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh …; và nếu có người bắt anh đi một dặm…” (Mt 5, 39-45). Đó không phải là luật lệ phải tuân hành theo đúng mặt chữ, mà chỉ là những “ví dụ nghịch lý” nhằm nêu lên một lý tưởng nào đó. Nói chung, những “khuôn mẫu điển hình” muốn tạo ra một thái độ nội tâm triệt để. Ở đây, điều muốn nói là thái độ sẵn sàng chia sẻ; nó thuộc lãnh vực ý chí, mà mau mắn diễn ra thực hành khi có cơ hội. Chính thánh Augustinô đã kể lại kinh nghiệm bản thân trong bài giảng nổi tiếng số 356 : “Tôi không muốn các bạn tặng quà cho tôi với danh nghĩa cho cá nhân tôi, chỉ để một mình tôi mới có thể dùng được… Phải làm sao để y phục của tôi có thể được chuyển tới người anh em khác đang cần” (số 13). Dù vậy, người cũng không đẩy mệnh lệnh này tới chỗ vụ luật. Ví dụ, một trinh nữ tên là Sapida tặng cho người cái áo dài mà cô đã may cho người anh của mình, nhưng ông ta sớm lìa đời. Người không từ chối dùng cái áo đó cho riêng mình. Trong trường hợp này, sự tế nhị nhân bản là hoa trái của bác ái, vượt lên lề luật[16]. Số 32 viết tiếp : Nếu ai giấu diếm một quà tặng nào thì sẽ bị phạt như phạm tội ăn trộm”. Tư hữu là trộm cắp ! Mệnh lệnh này không được ghi lại trong vài thủ bản cổ; tuy nhiên nó cũng chỉ là một hệ luận của luật hiệp thông tài sản đó thôi. Thật vậy, chúng ta thấy sự hiệp thông tài sản của cải dẫn đến hệ luận đến mức tối đa, cho rằng ai giữ lại quà tặng cho mình thì là kẻ ăn trộm và phải chịu hình phạt xứng với tội ấy. Lối diễn tả nghiêm khắc và cứng cỏi cho thấy tác giả muốn tuân hành cách nghiêm túc nguyên tắc về sự hiệp thông. Một số triết gia theo chủ nghĩa xã hội (chẳng hạn như ông Proudhon) cũng cho rằng : “Tư hữu là trộm cắp “. Tu luật thánh Augustinô còn đi thêm một bước nữa, đó là dành hình phạt cho những người vi phạm. Tuy khó đoán được biện pháp này đã được áp dụng như thế nào, nhưng ít là nó gây một ý thức cụ thể về hậu quả của “luật hiệp thông tài sản”.
4. MỐI NGUY CỦA TRANG ĐIỂM

Số 33 : “Tuỳ theo quyết định của bề trên, y phục của chị em sẽ do chính chị em giặt lấy hoặc thuê thợ giặt. Đừng vì quá lo lắng cho y phục sạch sẽ mà gây ra những vết nhơ trong linh hồn”.

Cốt lõi của mệnh lệnh này không phải vấn đề ai sẽ giặt quần áo. Bản luật không quan tâm trực tiếp đến những chuyện tắm rửa vệ sinh, mà là tinh thần phải có khi làm những công việc đó : đừng quá bận tâm đến phục sức bên ngoài bởi vì cái bên trong mới là quan trọng. Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần trách cứ những người Pharisiêu vì đã quá chăm sóc lau chùi những cái bề ngoài : “Hỡi những người Pharisiêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén dĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch” (Mt 23, 26)

5. ĐI TẮM VÌ LÝ DO SỨC KHOẺ

Số 34 : “Khi bệnh rất cần phải tắm, thì không được từ chối, nhưng phải tuân lời thầy thuốc mà không được lẩm bẩm. Vì thế dù không muốn, bệnh nhân vẫn phải làm điều có ích cho sức khoẻ theo lệnh bề trên. Trái lại nếu người ấy muốn tắm mà điều này không tốt thì đừng theo ý họ, vì khi thích điều gì dù là có hại, người ta cũng cho là hữu ích”.

Số này và hai số tiếp theo (35 và 36) mang dấu tích sâu đậm của một thời đại. Chuyện đi tắm ở đây được hiểu về các bể tắm nước nóng công cộng theo thói tục của người Rôma ngày xưa. Mỗi thành phố đều có các bể nước nóng dành cho đàn ông, tách biệt khỏi các bể nước nóng dành cho đàn bà. Đây là những dịch vụ công cộng và có vai trò giống như các câu lạc bộ ngày nay : nơi gặp gỡ giao lưu, giải trí và nghỉ ngơi; nơi thể dục, thư dãn và văn hoá (một vài bể tắm có thư viện). Người ta thường tắm mà không mặc quần áo và tuần tự theo nghi thức sau : tắm nước lạnh, tắm nước nóng, tắm hơi, xức dầu thơm, mát-xa và cạo râu, tóc. Theo y khoa cổ điển, tắm tại các bể nước công cộng như thế trước hết là một chuyện y khoa chứ không đơn giản là một thú tiêu khiển như ngày hôm nay. Khi nói về việc đi tắm, Tu luật cho thấy khá cởi mở và thông thoáng. Điểm này còn nổi bật khi đối chiếu với truyền thống đan tu cổ truyền, ít bận tâm đến sự sạch sẽ thân thể và thậm chí còn có một số đan sĩ “khấn ở bẩn”, cho đến nỗi việc đụng đến nước được coi như một hình thức đền tội ! Đang khi đó, Tu luật Augustinô định liệu cho các đan sĩ đau ốm phải đi tắm theo đề nghị của thầy thuốc. Tuy nhiên, tinh thần của bản luật còn đi xa hơn mục tiêu chữa bệnh nữa, như sẽ thấy. Tu luật rất lưu tâm đến vấn đề sức khoẻ. Trong trường hợp phải bảo vệ sức khoẻ mà bệnh nhân không muốn, luật truyền họ phải vâng phục bề trên : “Vì thế dù không muốn, bệnh nhân vẫn phải làm điều có ích cho sức khoẻ theo lệnh bề trên”. Rõ ràng Luật luôn nhắm đến liệu pháp y khoa, nghĩa là chỉ lo lắng chữa bệnh. Lăng kính này có lẽ khác với quan niệm của y khoa ngày nay là quan tâm đến việc phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn là chữa bệnh. Dù sao từ bên trong, Tu luật mong muốn cho các đan sĩ có sức khoẻ tốt nên mới nhấn mạnh rất nhiều là phải tuân theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc dù mình không muốn (số 34a và 35 b). Nhưng ngày nay chúng ta biết rằng các thầy thuốc không luôn luôn khuyên nhủ bệnh nhân đi tắm. Như vậy khoản luật này có những giới hạn và lỗi thời; dù vậy Luật vẫn còn được linh hoạt bởi chủ ý lưu tâm đến vấn đề sức khoẻ. Tiêu chuẩn này ngày nay có giá trị rất cao, kể cả trong cuộc sống tu trì. Tuy nhiên tác giả Tu luật còn cảnh báo một cám dỗ trong cộng đoàn : “Trái lại nếu người ấy muốn tắm mà điều này không tốt thì đừng theo ý họ, vì khi thích điều gì dù là có hại, người ta cũng cho là hữu ích“. Một số đan sĩ thay đổi nhu cầu từ chỗ đi tắm để chữa bệnh đến chỗ đi tắm để tiêu khiển, vui chơi, giống như đi tắm biển của chúng ta ngày nay. Thực ra vào thời thánh Augustinô đã có tắm biển rồi, nhưng người ta vẫn duy trì chức năng của nó là chăm sóc sức khoẻ. Ví dụ ông Celio Aureliano một danh y người Bắc Phi, sống cùng thời với Augustinô, chỉ dẫn như sau : “Để chống lại sự béo phì, phơi mình dưới ánh mặt trời thì thật là có ích (sole corpora torrere), điều này người Hilạp gọi là helosis… Và nếu biết khai thác năng lượng của cát trên bãi biển (arenae litoraniae fervor) cũng thật hữu ích giống như bơi trong nước biển vậy (natatio maritima)” (Affezioni durature o croniche, 5, 134-135)[17]Điều quan trọng nhất trong khoản luật này là giữ lấy nguyên tắc chung được nói trong số trước : tìm điều có lợi cho sức khoẻ chứ không phải tìm trò giải trí. Ngày nay đi tắm biển cũng là một phần của việc chăm sóc sức khỏe, kết hợp với đi nghỉ mát và giải trí. Trái lại, mát-xa, tắm hơi hay những khám phá của thú vui “trưởng giả” khác có thể là những cái thất thường đối với đời tu.
6. NHỮNG CĂN BỆNH KÍN ĐÁO

Số 35 : “Sau cùng, khi một tôi tớ Chúa cho biết mình bị đau đớn kín đáo trong thân thể thì phải tin không được chần chừ. Nhưng nếu không chắc có nên chữa trị theo phương thuốc mà họ yêu cầu hay không thì tốt hơn hãy hỏi thầy thuốc”.

Khoản luật này quả là một bằng chứng cho thấy sự tôn trọng đến độ tế nhị đối với người khác. Khi một ai đó cho biết họ đang bị đau thì phải tin vào lời họ mà không chần chừ. Có thể xảy ra trường hợp nói dối thì sao ? Thánh Augustinô sẽ trả lời : điều đó không quan trọng, bởi vì không có ai biết và quan tâm đến thân thể của người khác cho bằng chính bản thân họ. Trong vấn đề này, thà rằng bị lầm lẫn vì tin tưởng, còn hơn là nghi ngờ đố kị. Vào thời nay, việc áp dụng quy tắc này có tính cách hợp thời cách riêng đối với những bệnh trạng tâm lý. Nhiều khi các bệnh ấy không xuất hiện rõ ràng trước mắt người khác, nhưng hiện đang khống chế đương sự. Nhiều lần chúng ta nghĩ rằng họ chỉ tưởng tượng ra căn bệnh của mình; nhưng thử hỏi: ai tự nhận mình là bệnh nhân nguyên chỉ vì thích như thế ? Trực giác của nhà viết luật Augustinô thật là tuyệt vời. Ngài có một cái nhìn rất nhạy bén và sáng suốt từ tận thâm sâu, nói được là đi trước nhà phân tâm Freud và các đồng bạn… Thật vậy, vai trò của người thầy thuốc cũng tựa như một nhà phân tâm. Sau khi đã bàn về chứng bệnh (cần phải tin lời của người bệnh), Bản luật bước sang phần chữa bệnh. Ở giai đoạn này, cần phải tham khảo ý kiến thầy thuốc. Trong thực tế, có lẽ hồi đó nhiều đan sĩ theo phương pháp “tự chữa trị”; vì thế vai trò của thầy thuốc nhằm bảo đảm tính cách khách quan của nó, và Tu luật (số 34 a) bảo rằng phải tin lời của ông ta. Ngày nay, chúng ta thường nghi ngờ khả năng của các bác sĩ, và điều này cũng dễ hiểu thôi. Nhưng chúng ta cũng nên đặt vấn đề trước những phương pháp “tự chữa trị”, nghĩa là những tu sĩ tự bày ra những phương dược mà họ cho là hiệu nghiệm, chẳng hạn như đi nghỉ mát, du lịch, tham quan. Một lần nữa, thánh Augustinô tỏ ra sành tâm lý.
7. HIỆP THÔNG HUYNH ĐỆ KHI RA NGOÀI

Số 36 : “Khi đi tắm hay cần đi bất cứ nơi nào thì phải cho ít nhất hai hay ba người cùng đi. Và ai cần đi đâu, phải đi với những người bề trên chỉ định chứ không phải người mình thích”.

Chúng ta đang đối diện với một tinh thần quan trọng của Tu luật, đó là hiệp nhất trong tất cả mọi sự, khi ở trong nhà cũng như khi ra ngoài : phải luôn trao cho người khác chứng từ về tình huynh đệ. Tu luật đã nói đến vấn đề này trong các số trước : Khi ra khỏi nhà, chị em hãy đi với nhau (số 20) và ngay sau đó khuyên chị em đừng có điều gì gây khó coi cho người khác” (số 21). Bằng cách này chị em giúp nhau sống đời thánh hiến cách chân chính. Chị em có trách nhiệm lẫn nhau không phải chỉ trong lãnh vực khiết tịnh, nhưng còn cả trong cách cư xử của người tu sĩ nói chung. Người này trông nom người kia, gìn giữ cho họ nên tốt và chỉ nhắm cho họ nên tốt mà thôi. Chỉ kẻ nào có ẩn ý thì mới coi người kia như là “dò thám”, nhất là trong một vài tình huống nào đó, chẳng hạn ở các bãi tắm công cộng thời xưa hay thời nay. Ngày nay thật là khó áp dụng luật đi ra ngoài với hai hoặc ba người, bởi vì hoàn cảnh bắt buộc phải đi lại nhiều, và biên cương giữa cái bên trong và cái bên ngoài cộng đoàn không còn chặt chẽ nữa bởi vì có nhiều thông tin liên lạc giữa hai phía. Vậy phải sống khoản luật này như thế nào ? Có nhiều lý do để duy trì tinh thần của khoản luật : – Trước hết, việc cần đi chung với nhau mỗi khi ra khỏi nhà vẫn còn giá trị. Các bạn trẻ vẫn thích ra khỏi nhà với đám bạn bè mà ! – Ngoài ra khoản luật này vẫn còn giá trị cách riêng trong công việc mục vụ. Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng ta cần làm việc mục vụ chung. Đức Kitô đã chẳng sai các môn đệ của ngài ra đi truyền giáo từng hai người một (Lc 10, 1) đó sao ? – Cuối cùng, dù khi ra ngoài một mình, cần phải luôn luôn ra đi trong tinh thần hiệp thông với cộng đoàn. Cộng đoàn luôn đồng hành với chúng ta cách thiêng liêng và bằng tình thân thương, trong lời nguyện cũng như trong những câu chuyện trao đổi hàng ngày. Tuy nhiên để có sự hiệp thông đó, cộng đoàn phải biết người chị em đó đang ở đâu để bảo vệ và giúp đỡ người đó nếu có chuyện gì xảy ra. Cũng cần phải biết rằng hơn bao giờ hết cuộc sống của thời đại hôm nay luôn luôn xáo động và có nhiều bất ngờ, cho nên bảo vệ cho nhau là một trong những lý do tiêu biểu và nổi bật để giữ được tinh thần của khoản luật này. Tình hiệp thông đó phải rất cởi mở “phải đi với những người bề trên chỉ định chứ không phải người mình thích”Khoản luật này phản ánh “luật đồng hành” (lex socii) của người ngày xưa được tìm thấy trong Tu luật của thánh Pacomiô, tổ phụ của đời tu cộng đoàn[18]. Tuy nhiên ta phải giải thích khoản này theo tinh thần của toàn bộ Tu luật thánh Augustinô : sự hiệp thông huynh đệ. Việc bề trên sắp xếp người chị em ra ngoài là để củng cố tương quan giữa chị em, tránh tạo nên các nhóm đóng kín và chọn lọc. Dĩ nhiên những mối tương quan đặc biệt hoặc tình bạn trong cộng đoàn vẫn được trân trọng, bởi vì nó sẽ giúp đỡ chứ không ngăn cản tình huynh đệ với tất cả mọi người : “Với người bạn, tôi học cách yêu mến tất cả người khác” (E. Mounier). Kinh nghiệm cho thấy là những nhóm nhỏ đóng kín luôn gây nên phương hại cho cộng đoàn. Nếu các thành viên của một “câu lạc bộ nhỏ” có thể ra ngoài chung với nhau và chỉ họp với nhau mà thôi, thì tình trạng quả là đáng lo ngại. Vì thế khoản luật trên đây rất khôn ngoan: nó không nhằm tạo ra một thứ kiểm soát canh chừng lẫn nhau, nhưng là tình huynh đệ cởi mở và có trách nhiệm đối với nhau. Chúng ta phải nhận rằng áp dụng luật này cho ngày hôm nay không phải là không có khó khăn. Tâm thức của người đương thời không muốn chấp nhận một sự áp đặt từ bên trên, nhất là trong lãnh vực tương quan con người. Tuy nhiên Luật vẫn còn để lại lý tưởng chống sự phân biệt đối xử, bài trừ óc phe nhóm, địa phương, căn bệnh di truyền của người Việt Nam. Đây chính là tinh thần nằm ở bên trong Tu luật.
8. CÁC DỊCH VỤ TRONG CỘNG ĐOÀN
a) Phục vụ y tế

Số 37 : “Việc chăm sóc bệnh nhân hoặc những người đang dưỡng bệnh, cũng như đang ốm đau, dù không bị sốt, phải giao cho một người, để tự người ấy lấy từ nhà kho những thứ mà mình thấy cần cho mỗi bệnh nhân”.

Với số này chúng ta đi vào những dịch vụ khác nhau trong cộng đoàn như : y tế, nhà kho, phòng đồ, thư viện. Nhà viết Tu luật nói về công tác y tế, với tất cả sự tế nhị, lưu ý đến cả những thành phần đau ốm dù không bị sốt. Có lẽ y khoa ngày xưa chưa hiểu được các căn bệnh nặng mà chỉ thấy triệu chứng của nó cho nên gọi là “bị sốt”. Trong Tin mừng, Chúa Giêsu chữa cho bà nhạc thánh Phêrô khỏi cơn sốt được coi là một phép lạ chữa bệnh ! (Mc 1, 29-31; Mt 8, 15-15; Lc 4, 38-39). Bản Tu luật đang lưu hành trong dòng Đaminh hiện nay cũng dịch“sine febribus” là bệnh nan y. Dù hiểu thế nào đi nữa, Bản luật cũng không làm giảm bớt mối quan tâm đặc biệt của thánh Augustinô đối với các thành phần đau yếu. Luật quy định chỉ có một người chịu trách nhiệm về các chị em đau bệnh. Tại sao thế ? Chắc chắn khi có nhiều người đứng phụ trách thì không thể tránh khỏi xáo trộn với những bài thuốc tương phản nhau. Dĩ nhiên Tu luật không cấm có những chị trợ giúp. Điều đáng chú ý là việc chăm sóc bệnh nhân chủ yếu ở món dinh dưỡng : mỗi bệnh án đều có chế độ thức ăn riêng, như chúng ta đọc thấy nơi sách của các danh y Hippocrate và Celio Aureliano. Đến đây chúng ta hãy nghiên cứu cơ chế làm việc trong cộng đoàn đan viện của thánh Augustinô. Luật xác định : “để tự người ấy lấy từ nhà kho những thứ mà mình thấy cần cho mỗi bệnh nhân”. Có hai cách giải thích : hoặc là cộng đoàn có nhà kho riêng dành cho những người bệnh[19], và chị phụ trách có thể tự ý đi lấy và phân phát cho người bệnh mà không cần liên hệ với chị quản lý; hoặc chị săn sóc bệnh nhân lấy từ nhà kho chung (do chị quản lý phụ trách)[20]. Như thế, cộng đoàn có thể chỉ có một kho chung, hoặc có thêm một kho dành cho các bệnh nhân; trong cả hai trường hợp, chị coi sóc bệnh nhân vẫn được trao một chìa khoá để thi hành nhiệm vụ.

b) Phục vụ không kêu ca

Tu luật không quên xen vào một điều khoản thực tế và thích thời, dành cho những người phục vụ cộng đoàn trong các dịch vụ hàng ngày. :

Số 38 : “Những người phụ trách nhà kho, phòng quần áo và thư viện, phải biết phục vụ chị em, không được lẩm bẩm kêu ca”.

Các công tác này thường vô vị nhàm chán, vì thế người phụ trách dễ bị cám dỗ kêu ca, càu nhàu, cọc cằn. Luật khuyên họ rằng dù có những khó khăn, chị em hãy sẵn sàng phục vụ và tế nhị, có tấm lòng, thậm chí phải vui tươi và biết hài hước. Thánh Kinh coi sự lẩm bẩm kêu ca là một tội nặng[21], và cảnh giác ta phải tránh xa. Chúng ta chỉ giới hạn trích vài lời của thánh Phaolô : “Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số người lẩm bẩm kêu trách” (1Cr 10, 10). Hơn nữa ngài còn phát biểu một câu không thể nào quên : “Ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương” (2Cr 9, 7).

c) Phục vụ đời sống trí thức

Số 39 : “Sách vở phải xin vào những giờ đã định mỗi ngày. Ai xin ngoài giờ sẽ không được cấp”.

Tu luật chỉ dành một số nói về sách vở (từ đó kết luận được rằng bản văn này chỉ là tập ghi chép các bài huấn từ). Tuy ngắn gọn, nó vẫn chứa đựng nhiều điều quan trọng. Ông Possidius cho biết trong các cộng đoàn đan tu do thánh Augustinô thành lập đều có thư viện (Vita, 31, 8). Việc học hành luôn được cổ vũ giống như một hình thức lao động, nhằm mục đích hiểu biết Lời Chúa hơn, đem áp dụng vào cuộc sống và rao giảng cho người khác. Chính thánh nhân là mẫu gương cho việc học hành và đã đạt được nhiều thành quả. Theo danh sách do Possidius liệt kê, Người đã viết hơn một ngàn tác phẩm gồm có các sách, thư mục vụ, khảo luận. Tất cả các tác phẩm đều phát sinh từ nhu cầu mục vụ của dân chúng, trừ khảo luận về De Trinitate và Retractationum libri II. Người để lại một thư viện phong phú sau khi qua đời. Sự quan tâm đến việc học hành và nghiên cứu thực sự là một điều mới mẻ, và để lại nhiều ảnh hưởng cho các dòng tu ở các thế hệ tiếp theo. Như chúng ta đã biết, các dòng tu Kitô giáo góp phần rất lớn vào sự thành hình văn minh châu Au : các đan viện Biển Đức đã bảo tồn và truyền lại tất cả văn hoá Cổ đại; các dòng hành khất vào thời Trung cổ đã để lại một hệ thống tư tưởng triết học và thần học sâu sắc. Khoản luật mà chúng ta đang phân tích quy định việc mượn sách hàng ngày. Điều này giả định là trong các đan viện của thánh Augustinô, có nhiều tu sĩ thường xuyên đọc sách và nghiên cứu chuyên cần miệt mài ở một mức độ cao. Có thể họ học các môn về đời sống tâm linh, Thánh Kinh, mục vụ và thần học. Tại sao Luật yêu cầu không cho mượn sách ngoài giờ đã định ? Chắc chắn vào thời đó sách là gia tài rất quý giá; tất cả đều được chép tay cẩn thận và rất đẹp, đôi khi còn được trang trí khéo léo và có nghê thuật. Gia tài quý giá như thế chắc chắn phải được chú ý cẩn thận và được gìn giữ khỏi bị hư hỏng và thất lạc. Đằng sau hai dòng chữ ngắn ngủi nói về dịch vụ cho mượn sách, chúng ta thấy tất cả lòng say mê nghiên cứu học hành của các đan sĩ với mục đích để sống tốt hơn và phục vụ tốt hơn.

d) Phục vụ những nhu cầu cần thiết

Số 40 : “Nhưng y phục và giầy dép, khi chị em thiếu mà xin thì phải cho ngay, không được trì hoãn”.

Chúng ta cần chú ý tới bước chuyển tiếp giữa số 39 và 40 cũng như ý nghĩa của nó : sách thì không được phân phát (cho mượn) cách dễ dàng ở mọi lúc mọi nơi, nhưng quần áo, giầy dép thì khác. Điều này thật dễ hiểu: nhu cầu trí thức có thể đợi chờ, nhưng những nhu cầu vật chất thì không thể được. Đối với sách vở, ta có thể chờ cho đến khi thư viện mở cửa, nhưng giầy dép và những đồ dùng hàng ngày cần thiết thì phải cho ngay, không được trì hoãn, như Tu luật nói, “khi chị em thiếu“. Đây thực là thái độ phục vụ sẵn sàng rất thực tế và đáng ngạc nhiên. Thánh Augustinô cho thấy lòng nhân hậu và nhân bản khi đối diện với những nhu cầu cơ bản của con người. Chúng ta cần nhớ rằng mức độ cấp bách của đời sống vật chất trong đời đan tu ngày xưa thì khác với cuộc sống của chúng ta ngày nay. Dù vậy chúng ta không thể không nhấn mạnh đến ý nghĩa nhân đạo trước những nhu cầu vật chất thường ngày của chị em trong cộng đoàn, đặc biệt là thái độ của những người có trách nhiệm về kinh tế trong nhà.

1 2 3

Comments are closed.