Tu luật Thánh Augustinô – Phần III: Giải thích Tu luật (p.2)

0

Chương 7. QUYỀN BÍNH VÀ VÂNG PHỤC

Tu luật không chỉ nói về vâng phục (số 44 và 47) mà còn bàn đến quyền bính (số 45 và 46). Thi hành quyền bính và bổn phận vâng phục, cả hai đều dựa trên tình yêu. Đây là chương mang sắc thái của thánh Augustinô nhiều nhất, bởi vì nó cho thấy một lối nhìn rất độc đáo của người về quyền bính và vâng phục. Hầu như các suy tư trên đề tài này đều phản ánh linh đạo và kinh nghiệm cá nhân của tác giả. Bố cục của chương 7 như sau : –   Bổn phận phải vâng lời bề trên (số 44) –   Trách nhiệm của bề trên (số 45-46) –   Vâng lời là một hành vi bác ái (số 47) Trước khi đi vào phân tích từng khoản, chúng ta nên nói về cơ cấu trong cộng đoàn đan viện của thánh Augustinô. Các cộng đoàn đan viện do thánh Augustinô thành lập có một cơ cấu rất khác với cơ cấu của các đan viện thời bấy giờ. Trong các đan viện khác, người đứng đầu là đan viện phụ (abbas) hay đan viện mẫu (amma). Cơ cấu này rất thông thường và chắc chắn thánh Augustinô đã biết rõ. Tuy nhiên, trong các đan viện do người thiết lập, các đan viện phụ và đan viện mẫu không phải là trung tâm quy tụ của cộng đoàn. Cơ cấu của cộng đoàn Augustinô mang tính cách dân chủ hơn, và điều này liên quan đến kinh nghiệm cá nhân của người. Thật vậy, vừa khi mới trở lại đạo, người đã nảy ra ý tưởng thành lập một đan viện. Augustinô quy tụ nhóm bạn bè và họ hàng thân thích ở Cassiciacum, và sau đó ở Tagaste để sống đời đan tu. Tuy nhiên ý tưởng này không thành, người chuyển tới Híppô và tại đây đã mọc lên một cộng đoàn vào năm 391 được gọi là monasterium (đan viện), từ ngữ được dùng lần đầu tiên trong các tác phẩm của Augustinô. Đan viện là một cộng đoàn mở tiếp nhận mọi người không thuộc phạm vi bạn hữu và gia đình thân thuộc, trong đó mọi người đều được hưởng quyền dân chủ và bình đẳng như nhau (không còn bức tường ngăn cách giữa người nô lệ và ông chủ). Vì những cộng đoàn này xuất phát từ nhóm bạn bè cho nên rõ ràng người có trách nhiệm trong cộng đoàn không bao giờ được gọi là abbas hay amma, mà là praepositus hay praeposita(praepositus = prae (trước) + positus (được đặt), người được đặt đi trước, người làm đầu (xem số 46); có thể gọi là đan viện trưởng, anh nhất (hay chị nhất). Đan viện trưởng là người lãnh đạo cộng đoàn nhưng vẫn thuộc hàng ngũ anh em đan sĩ. Ông là thành viên của cộng đoàn và không có gì khác biệt căn bản với các thành viên khác. Trách nhiệm trong cộng đoàn không chỉ gán cho một người, nhưng tất cả mọi người trong cộng đoàn đều chia sẻ trách nhiệm đó. Một lý do khác làm cho thánh Augustinô đề cao tương quan giữa các thành phần trong cộng đoàn và vai trò của cộng đoàn đó là lý do thần học. Thật vậy, vì Đức Kitô là vị Thầy duy nhất, cho nên bề trên chỉ là người đại diện cho Ngài. Chỉ có Chúa mới thấu hiểu thâm tâm của từng người, chứ bề trên không có khả năng nhận thức sáng suốt bản chất và nội tâm của người khác. Nếu ai muốn biết sự thật thì phải học nơi Đức Kitô. Tất cả chúng ta chỉ có một người Thầy nội tâm duy nhất là Đức Kitô cùng với Chúa Thánh Thần là Thầy Chân lý. Chính Đức Kitô và Chúa Thánh Thần là Thầy hướng dẫn tâm linh mà tất cả cộng đoàn phải quy tụ quanh Ngài. Cả cộng đoàn lắng nghe Đức Kitô, Chúa Thánh Thần và Tin mừng. Do đó vâng lời bề trên không có nghĩa là vâng lời Chúa mà là “tôn kính” Chúa ở trong bề trên.

1. BỔN PHẬN PHẢI VÂNG LỜI

Số 44. “Chị em hãy vâng lời bề trên như mẹ, với lòng kính trọng để không làm phiền lòng Chúa ở trong con người của bề trên. Hơn nữa hãy vâng lời cha tuyên uý là người coi sóc mọi chị em”.

Thánh Augustinô áp dụng lời khuyên của thánh Phaolô đối với các tín hữu Do thái : “Anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em, và hãy phục tùng họ vì họ chăm sóc linh hồn anh em” (Dt 13, 17). “Hãy vâng lời bề trên như mẹ”. Với từ “như mẹ” thánh Augustinô muốn đưa chúng ta đến mối tương quan giữa bề trên và cộng đoàn “như thể” trong gia đình và bầu khí đan viện thật thân thương. Dĩ nhiên, dù so sánh tương quan trong cộng đoàn như sợi dây ràng buộc gia đình, nhưng thực ra không có sợi dây huyết tộc giữa các phần tử trong cộng đoàn. Đó là lý do vì sao có từ “như”. Một số Bản luật[22], trong đó có Bản luật mà chúng ta đang phân tích, thấy rằng sự tin tưởng, thân tình giữa các phần tử và bề trên mà thôi thì chưa đủ; cần phải có sự kính trọng đối với nhiệm vụ của bề trên nữa, vì thế đã thêm : “với lòng kính trọng để không làm phiền lòng Chúa ở trong Bề trên“. Câu này không có trong bản dịch của Dòng Anh em Thuyết giáo Việt Nam. Dù sao, để học hỏi, chúng ta thử tìm hiểu câu nói này có nghĩa là gì. Phải chăng luật muốn đồng hoá Bề trên với Chúa : không tuân phục bề trên là không vâng phục Chúa ? Để hiểu rõ giá trị thực sự của nó, một số học giả[23] đi tìm hiểu tư tưởng của thánh Augustinô trong các tác phẩm khác nữa. Theo thánh Augustinô, vâng phục là lắng nghe và thi hành Thánh ý Chúa Cha như Đức Giêsu (Pl 2, 8; Dt 5, 8; Rm 5, 19; Lc 2, 31; Ga 5, 25). Chính Ngài là khuôn mẫu của sự vâng phục cho chúng ta là những kẻ bất tuân. Như vậy vâng phục bề trên không có nghĩa là tùng phục Chúa ở trong con người của bề trên nhưng là lắng nghe ý muốn Chúa qua lệnh truyền của bề trên. Dù sao Tu luật cũng khuyến nhủ chị em “phải tôn kính Thiên Chúa ở trong chị em vì chị em là đền thờ của Người” (số 9). Nếu mỗi người được tôn trọng vì Chúa cư ngụ trong họ thì chắc chắn bề trên càng phải được tôn trọng hơn nữa. Chúng ta trở lại cơ cấu lãnh đạo trong cộng đoàn như đã nói ở chương 4 về việc sữa lỗi. Ở đây vai trò của cha Tuyên uý (chúng ta mạn phép dịch như thế, trong khi bản dịch của các Cha Đa Minh Việt Nam gọi là “bề trên thượng cấp”, dù theo tiếng Latinh Presbyter chỉ có nghĩa là linh mục) được nhắc lại rất rõ nét. Tuy nhiên có nhiều ý kiến khác nhau về chân dung của vị linh mục này. Theo ý kiến của cha Tarsicius van Bavel OSA[24], Tu luật này được viết cho đan viện “giáo dân” tại Híppô trước khi thánh Augustinô phải rời đó để đến định cư tại Toà Giám mục. Bề trên (đan viện trưởng) phụ trách việc điều hành cộng đoàn : ông là một trong các đan sĩ giáo dân. Thêm vào đó, có một linh mục cũng là đan sĩ thuộc về cộng đoàn nhưng được cắt cử coi sóc đời sống thiêng liêng của cộng đoàn (ban bí tích và cử hành các buổi phụng vụ). Như vậy, cơ cấu điều hành của đan viện gồm hai bề trên song hành. Nữ tu Marie Ancilla O.P.[25] trưng dẫn nhiều tài liệu về đời đan tu trong đó có nhắc đến sự hiện dịên của một linh mục. Chẳng hạn như trong bộ luật Ordo Monasterii số 6, cha tuyên uý là người có vị trí cao nhất trong đan viện. Tác phẩm De moribus ecclesiae cũng nói đến một linh mục khôn ngoan thông thái được đức Giám mục đặt làm Đại diện đứng đầu đan viện Milanô. Như vậy vào lúc đầu, vai trò của Presbyter có lẽ là thay mặt của giám mục để điều khiển đan viện, nhưng dần dần chức vụ này mất tầm quan trọng trong các đan viện dành cho nam giới. Chẳng hạn Tu luật của thánh Césaire giám mục Arles (được soạn thảo dựa theo Tu luật thánh Augustinô) không đề cập đến bóng dáng của vị linh mục ở bên ngoài cộng đoàn giữ vai trò điều hành. Đọc Tu luật, ta cảm thấy các đan sĩ là các tín hữu tuyên khấn sống đời thánh hiến và không nhất thiết họ phải là linh mục hay giáo sĩ. Vì thế trong cộng đoàn cần có một linh mục chủ sự đời sống phụng vụ của cộng đoàn, những người khác đều là giáo dân. Nếu Tu luật được viết cho đan viện “giáo dân” ở Híppô, nơi mà thánh Augustinô là thành viên của cộng đoàn và lãnh nhận tác vụ linh mục, thì có lẽ hình ảnh của Presbyter trong Tu luật chính là thánh Augustinô. Người giữ chức năng của một cha tuyên uý cho đến khi được phong chức giám mục và phải đến cư ngụ tại Híppô. Ngày nay người ta đã tái khám phá sự khác biệt giữa ơn gọi tu sĩ và ơn gọi giáo sĩ, điều mà trong quá khứ nhiều khi bị đồng hoá : đã đi tu thì phải làm linh mục (cha dòng). Đó là nói về nam giới! Tuy nhiên, nếu thánh Augustinô viết bản luật cho giới nữ thì phải hiểu Presbyter một cách khác. Linh mục này được Giám mục đặt làm Đại diện để điều khiển cộng đoàn cả về đời sống thiêng liêng cũng như về kỷ luật. Dĩ nhiên, vị này không phải là thành viên của cộng đoàn, nhưng lại có thể can thiệp vào nội bộ bất cứ lúc nào. Không lạ gì mà Presbyter đôi khi được dịch là “Cha bề trên, cha Chính, Bề trên cao cấp”. Đó cũng là vai trò của nhiều cha bề trên đối với các dòng nữ ở Việt Nam cho đến Công đồng Vaticanô II. Bộ Giáo Luật hiện hành (1983) vẫn còn dành cho Bản quyền sở tại một vài quyền hạn, chẳng hạn như bổ nhiệm cha Tuyên uý, sau khi được tham khảo ý kiến của Bề trên và cộng đoàn : “Bản Quyền sở tại không nên bổ nhiệm Tuyên Uý cho một Dòng tu giáo dân mà không tham khảo ý kiến của Bề trên; Bề trên có quyền đề cử một linh mục, sau khi đã hội ý với cộng đoàn”(GL số 567#1). Tuy nhiên, Bộ Giáo Luật đã hạn chế thẩm quyền của Bản quyền địa phương cũng như của cha Tuyên uý. Một đàng, Bản quyền phải tôn trọng quyền tự trị chính đáng của mỗi hội dòng : “Giáo hội nhìn nhận cho mỗi hội dòng được hưởng quyền tự trị chính đáng về nếp sống, nhất là trong việc cai trị, nhờ đó họ được hưởng một kỷ luật riêng trong Hội thánh và có thể bảo tồn nguyên vẹn gia sản riêng đã nói ở điều 587 – Bản quyền địa phương có bổn phận tôn trọng và bảo đảm sự tự trị ấy” (GL số 586 #1-2). Đàng khác, vai trò của cha Tuyên uý cũng được xác định là chuyên lo việc phụng vụ chứ không được phép pha mình vào việc cai trị nội bộ của cộng đoàn : “Tuyên uý có quyền cử hành hoặc điều khiển mọi lễ Phụng vụ; nhưng không được phép can thiệp vào việc quản trị nội bộ của Dòng”(GL số 567#2).

2. NHIỆM VỤ CỦA QUYỀN BÍNH

Số 45 : “Trách nhiệm của bề trên trước hết là lo lắng sao cho tất cả những quy tắc trên đây được tuân thủ, và không được làm ngơ những sai sót, nhưng phải lo liệu sửa chữa. Còn những điều gì vượt quá quyền hạn hay sức lực của mình thì phải trình lên cha tuyên uý (presbyter), bởi vì ngài có quyền bính cao hơn”.

Tu luật cổ võ tinh thần đồng trách nhiệm của mỗi người trong cộng đoàn. Mỗi chị em có trách nhiệm đối với người khác và với cộng đoàn. Bề trên là người có “trách nhiệm trước hết” nhưng không phải là người duy nhất lãnh trách nhiệm. Đối với Augustinô, mô hình cơ cấu của cộng đoàn tu trì không phải là hình kim tự tháp theo khuôn mẫu phẩm trật của xã hội Rôma thời đó, mà là một hình tròn theo khuôn mẫu của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Người không đơn thuần chấp nhận trật tự xã hội đã thiết định, cũng chẳng du nhập vồn vã trào lưu tư tưởng của người đương thời. Trái lại, đan viện (monasterium) xuất hiện như một hình thức xã hội mới, nơi đó những bức tường ngăn cách giữa những người nô lệ với những nhà địa chủ, dân cùng đinh và lớp thượng lưu đều bị sụp đổ. Trong monasterium, mỗi người đều có quyền sống chung với người khác và bình đẳng như nhau, trong tình huynh đệ, và có thể nói, trong tình nghĩa bạn hữu. Bề trên là một người anh em, “anh cả” (prior)[26]. Khi Tu luật nói rằng bề trên phải làm cho mọi người tuân thủ các quy tắc, tức là muốn nói rằng nền tảng và lãnh vực của quyền bính chính là Tu luật. Quyền hành của bề trên không ở trên Tu luật; các chỉ thị của bề trên không được đi trái ngược Tu luật. Bề trên thi hành quyền bính để xây dựng cộng đoàn dựa theo Luật dòng, chứ không phải tuỳ theo sở thích riêng tư của mình. Thánh Augustinô còn yêu cầu các bề trên “không được làm ngơ những sai sót, nhưng phải lo liệu sửa chữa”. Đây là mức độ đo lường sự khôn ngoan của bề trên, bởi vì nếu những lỗi phạm không được sửa chữa kịp thời sẽ lặp đi lặp lại và kết tụ thành những tập quán xấu, đưa cộng đoàn lao xuống dốc. Nếu để những vấn đề đó càng ngày càng tồn đọng và chồng chất thì cộng đoàn đó sẽ có ngày kết liễu. Như thế cần phải luôn luôn tỉnh thức và chiến đấu không ngừng để bước theo Đức Kitô trong tinh thần của Tin mừng. Đời sống tu trì không bao giờ là một bến đỗ, một sân ga, mà là con đường; đời tu không phải là sự dừng bước và mãn nguyện, nhưng phải trở nên tốt hơn và biến chuyển luôn mãi. “Còn những điều gì vượt quá quyền hạn hay sức lực của mình thì phải trình lên cha tuyên uý, bởi vì ngài có quyền bính cao hơn”. Đây là quy tắc chung và đã áp dụng vào trường hợp cụ thể như đã thấy ở số 27c và 29b. Như vừa trình bày trên đây, cha tuyên uý (presbyter) sẽ giải quyết những vấn đề liên quan đến đức tin, bí tích, tác vụ tư tế, nghĩa là hỗ trợ đời sống phụng vụ và kỷ luật Giáo hội trong cộng đoàn. Cụm từ “có quyền bính cao hơn” được hiểu về những chuyện thuộc về đức tin và bí tích, nghĩa là thuộc một hệ trật cao cấp hơn, chứ không nên hiểu theo nghĩa cơ cấu quản trị như là một bề trên ở cấp cao hơn.

3. TINH THẦN CỦA QUYỀN BÍNH

Số 46 : (a) Ai làm đầu chị em thì đừng nghĩ mình có phúc vì được thống trị bằng quyền bính, nhưng vì được phục vụ bằng tình yêu. (b) Ước gì trước mặt chị em, bề trên đứng hàng đầu vì danh dự; ước gì trước mặt Chúa, bề trên phủ phục dưới chân chị em vì run sợ. (c) Bề trên hãy nêu gương sáng cho mọi người về các việc lành. (d) Hãy chỉnh đốn những kẻ khuấy động, khích lệ những người nhát đảm, nâng đỡ những người yếu đuối, phải kiên nhẫn với hết mọi người. (e) Hãy lấy tình yêu mà duy trì kỷ luật và lấy quyền uy mà cưỡng chế thi hành. (f) Tuy cả hai đều cần thiết nhưng bề trên phải ao ước được chị em yêu mến hơn là sợ hãi. (g) Đồng thời phải luôn nghĩ rằng mình sẽ phải trả lẽ với Chúa về các chị em mình”.

a) Phục vụ trong tình yêu

Khoản luật này định nghĩa rõ ràng hơn cả về bề trên : theo nghĩa văn tự praeest là “kẻ ngồi đầu, chủ toạ”. Để làm sáng tỏ quyền bính thực thụ, Tu luật phân biệt giữa “quyền thống trị” và “quyền phục vụ”. Nhà viết Tu luật rất thấm nhuần lời giảng dạy của Đức Giêsu : “Anh em biết những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai trị dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10, 42-44; x. Lc 22, 25-26). Nhưng Tu luật còn nêu thêm một sự phân biệt khác giữa “quyền bính” và “tình yêu”, nghĩa là quyền bính được nhìn dưới lăng kính tiêu cực. Thật vậy, trong một tác phẩm viết ngay sau khi hoán cải, thánh Augustinô nói rằng người cầm quyền phải “hổ thẹn vì cai trị, dominari pudeat” (De ordine, II, 8, 25). Người không hề coi chức vụ là một vinh dự nhưng là một gánh nặng, một ba lô làm trĩu vai người lính trên đường xung trận[27]. Xét cho cùng, quyền bính được trình bày như là “tình yêu phục vụ”, một tư tưởng dựa theo lời khuyên của thánh Phaolô : “Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Ngoài ra Tu luật còn phấn khích bề trên phục vụ với tất cả niềm vui, hãy nghĩ “mình có phúc” (se existimet felicem) vì được phục vụ. Đây cũng là điểm quy chiếu từ Thánh Kinh (x. Dt 13, 17; Ga 13, 17; Rm 12, 8; Tv 100, 2). Tóm lại, qua số luật ngắn ngủi này, thánh Augustinô trao cho các bề trên một dây chuyền vàng, được kết nối bằng những mắt xích : quyền bính – phục vụ – tình yêu – niềm vui[28].

b) Biện chứng tương phản của quyền bính

Thánh Augustinô còn dùng lối chơi chữ và phản đề để nói về quyền bính-phục vụ của bề trên : “Trước mặt chị em, bề trên đứng hàng đầu vì danh dự, nhưng trước mặt Chúa, bề trên phủ phục dưới chân chị em vì run sợ”[29]. Đây là hai mặt tương phản nhau : – Vinh dự – trước mặt chị em – đứng hàng đầu – Run sợ – trước mặt Chúa – phủ phục dưới chân Biện chứng này có nền tảng trong Thánh Kinh. Chính Đức Giêsu cũng đã dạy và đã sống : “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Thánh Phaolô cũng đã xác nhận như vậy khi viết : “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa…nhưng đã …mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế…” (Pl 2, 6-7). Và sách Huấn ca cũng tổng hợp lối sống ấy trong câu : “Càng làm lớn con càng phải tự hạ” (Hc 3, 18). Như thế phải loại trừ hai thái cực sau đây khi thi hành quyền bính : bề trên thống trị cộng đoàn (khi thiếu lòng kính sợ Chúa); hoặc là cộng đoàn hạ giá bề trên (khi cộng đoàn thiếu lòng kính trọng quyền bính).

c) Yếu tố bên trong của quyền bính

Để được như thế, về phía bề trên, quyền bính phải thể hiện từ bên trong bằng cuộc sống mẫu mực có sức thuyết phục : “Bề trên hãy nêu gương sáng cho mọi người về các việc lành”.Uy tín của Bề trên tiên vàn phát sinh từ sự gắn bó với Tin mừng : ngài hướng dẫn và điều khiển nhờ chính cuộc sống nhân chứng của mình. Đây chính là yếu tố bên trong của quyền bính sẽ làm cho ngài được tín nhiệm, khơi dậy lòng kính trọng và ưng thuận nơi cộng đoàn. Chính vì thế, Tân ước luôn luôn thiết tha yêu cầu những người có trách nhiệm trong cộng đoàn hãy nên gương mẫu : “Chính anh phải làm gương về mặt đức hạnh” (Tt 2, 7; Dt 13, 7; 1Pr 5, 3; …). Thánh Phaolô cũng không ngần ngại nhiều lần trưng dẫn bản thân như một tấm gương cho cộng đoàn các tín hữu noi theo (x. 1Tx 1, 6; 2Tx 3, 7-9; 1Cr 11, 1; Tv 4, 12; Pl 3, 17; 4, 9…). Nếu thiếu việc làm gương mẫu thì sẽ sản sinh ra thứ quyền bính của người Pharisêu, “chỉ nói mà không làm” (Mt 23, 3), hoặc như rất nhiều nhà cầm quyền và lãnh đạo các cấp trong xã hội hôm nay, áp đặt nhiều gánh nặng cho dân chúng còn họ thì cứ ung dung tự tại (x. Mt 23,4).

d) Tôn trọng những khác biệt của mỗi cá nhân

Một lời nhắn nhủ nữa mà Tu luật nêu ra là tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân : Hãy chỉnh đốn những kẻ khuấy động, khích lệ những người nhát đảm, nâng đỡ những người yếu đuối, phải kiên nhẫn với hết mọi người”. Rõ ràng thánh Augustinô lấy lại tư tưởng của thánh Phaolô trong thư I Thêxalônica khuyến dụ các tín hữu : “Thưa anh em, chúng tôi khuyên nhủ anh em : hãy khuyên bảo người vô kỷ luật, khích lệ kẻ nhút nhát, nâng đỡ người yếu đuối và kiên nhẫn với hết mọi người” (1Tx 5, 14). Người nhắc nhở những kẻ có trách nhiệm phải nhìn thấy sự khác biệt giữa các phần tử trong cộng đoàn. Như chúng ta đã phân tích trong số 16, 17…, thánh nhân rất lưu tâm và tôn trọng sự khác nhau : dùng đức ái đối với tất cả mọi người, nhưng không cùng một biện pháp như nhau (x. De catechizandis rudibus, 15, 23). Vì thế, Tu luật yêu cầu : –  Đối với những người khuấy động : uốn nắn và chỉnh đốn; –  Đối với người nhát đảm sợ hãi : khích lệ và an ủi; –  Đối với người yếu đuối : đón nhận và yểm trợ; –  Đối với hết mọi người : kiên nhẫn; đây là cần thiết nhất !

e) Nêu gương đi trước, quyền bước theo sau

Tu luật viết tiếp : “Hãy lấy tình yêu mà duy trì kỷ luật và lấy quyền uy mà cưỡng chế thi hành”. Kỷ luật ở đây bao hàm Tu luật cũng như nội quy trong nhà và chương trình sống hàng ngày. Bề trên được mời gọi là người đầu tiên nêu gương sáng trong việc giữ luật, nhưng phải có sức thuyết phục. Tu luật được dành cho tất cả mọi người trong cộng đoàn, bắt đầu từ những người có trách nhiệm. Vì thế không có chuyện đặc ân hay ưu đãi dành cho riêng ai; khi xảy ra như vậy là dấu hiệu cho thấy quyền bính đã bị hư hỏng rồi. Riêng vế thứ hai “lấy quyền uy mà cưỡng chế thi hành” thì nguyên bản nói nặng hơn : “hãy áp đặt sự sợ hãi” (metum imponat). Sợ hãi ai ? cái gì ? Có bản dịch là “dùng quyền cho anh em sợ mà tuân giữ”[30], nghĩa là sợ uy quyền của bề trên. Một dịch giả khác[31]thì cho rằng “sợ kỷ luật”, nghĩa là tôn trọng kỷ luật. Hiểu theo nghĩa này, thì đây là một nghĩa vụ ràng buộc cả bề trên lẫn bề dưới : bề trên hãy là người biết tôn trọng kỷ luật cách gương mẫu, và rồi hãy bắt các chị em khác cũng tôn trọng như vậy !

f) Tương quan tình yêu

Bề trên hãy tỏ ra dễ thương : “Tuy cả hai đều cần thiết nhưng bề trên phải ao ước được chị em yêu mến hơn là sợ hãi”. Tương quan giữa cộng đoàn với bề trên phải luôn luôn là tương quan tình yêu. Thật vậy, cái căn bản sâu xa nhất của quyền bính của ai đó ở nơi tấm lòng của những người vâng phục người ấy, sự đón nhận và tình yêu chân thành từ phía chị em. Họ yêu bề trên như mẹ mình (số 44a) và bề trên phục vụ chị em bằng tình thương mến. Tuy nhiên đối với Augustinô, cái uy trong khi thi hành quyền bính không phải là không cần thiết, bởi vì tiếc rằng trong cộng đoàn luôn có những kẻ không hiểu được ngôn ngữ của tình yêu và trách nhiệm, mà chỉ biết lạm dụng. Điều này cho thấy hiệu lực của luật như thánh Phaolô nói : “Lề luật có đó không phải cho người công chính, mà là cho hạng người sống ngoài lề luật và bất phục tùng, vô luân và tội lỗi, phạm thánh phạm thượng, giết cha giết mẹ, sát nhân” (1Tm 1, 9). Dù vậy trong tương quan giữa bề trên và chị em, phải để tình yêu trổi vượt trên sự sợ hãi : tình yêu phải đạt tới mức tối đa và sự sợ hãi phải giảm đến mức tối thiểu.

g) Quyền bính có trách nhiệm

Khi thi hành quyền bính, bề trên phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tu luật nhắc nhở các bề trên rằng họ sẽ phải trả lẽ với Chúa về các chị em mình”. Trước hết họ phải “tính sổ” với Chúa. Chính Chúa Giêsu đã dạy điều này trong dụ ngôn về người quản gia mà “chủ đặt lên để coi sóc kẻ ăn người ở”, Người sẽ xét xử anh ta khi Người trở về (Lc 12, 41-48). Qua mệnh đề rất ngắn gọn này, ta có thể hình dung thần học sâu sắc của thánh Augustinô về quyền bính như thế này : – Bề trên thay mặt toàn thể cộng đoàn trước mặt Chúa (“về các chị em”) – Quyền bính được lượng định bởi phán quyết cánh chung của Chúa (“phải trả lẽ”) Ở đây có thể đặt câu hỏi: bề trên có nên trả lẽ về hành động của mình trước mặt cộng đoàn hay không? Theo tinh thần dân chủ hiện đại, việc làm này là cần thiết và chắc chắn rất hợp pháp. Tuy nhiên, Tu luật không đặt ra nghĩa vụ buộc bề trên phải “tường trình trước đại hội”, nhưng cũng chẳng loại trừ ý tưởng đó. Trên thực tế, truyền thống các dòng tu đã cung cấp nhiều phương tiện bảo đảm cho sự tham gia và cổ võ tinh thần dân chủ, như tổ chức các tổng hội, tỉnh hội, bá cáo, bầu cử, phân bố quyền bính qua các cố vấn… Theo các sử gia nổi tiếng, chế độ dân chủ của xã hội hiện đại được khởi hứng từ đời đan tu và tu viện[32].

4. VÂNG LỜI LÀ HÀNH VI BÁC ÁI

Số 47. “Do đó khi vâng lời, thì không những là chị em thương xót mình nhưng còn thương xót cả bề trên nữa, bởi vì kẻ càng ở địa vị cao giữa chị em, thì càng gặp nhiều hiểm nguy”.

Đến đây Tu luật trở về với đức vâng lời, và xét trong viễn tượng của sự phục vụ công ích. Tu luật trình bày một quan niệm rất độc đáo khi coi việc vâng phục như một hành vi của lòng thương xót. Trước hết, lòng thương xót đối với người tu sĩ vâng phục bề trên xét vì vâng phục luôn luôn tạo nên cơ hội tốt cho họ. Chắc chắn thánh Augustinô đã biết đến sách Huấn ca (bản Vulgata cổ bằng tiếng Latinh) : “Hãy thương xót linh hồn bạn để Thiên Chúa được hài lòng”. Cũng trong ý nghĩa này mà sách Tôbia dạy : “Những ai phạm tội ăn ở bất công là kẻ thù của chính mình” (Tb 12, 10). Người cũng khẳng định tương tự như vậy trong một lá thư khác : “Không có ai yêu mình thực sự nếu họ không yêu Chúa” (Ep. 115, 115). Thứ đến, vâng lời còn tỏ lòng thương xót đối với bề trên. Ý tưởng này lại càng độc đáo hơn nữa. Một lần thánh Augustinô đã kêu gào trước mặt nhân dân : “Xin anh em hãy giúp tôi, hãy cầu nguyện và vâng lời tôi” (Serm 232, 8) rồi người còn van nài : “Hỡi anh em, nếu anh em không thương xót chính mình thì ít là hãy thương xót tôi, tôi khẩn cầu anh em đấy !” (In Ps 36, 3, 20). Do đó, Tu luật thánh Augustinô không nói rằng bề dưới hãy nghe và nhận ra tiếng Chúa trong con người của bề trên, nhưng lại nhấn mạnh rằng bề dưới hãy yêu mến bề trên. Tất cả mối liên hệ về hướng dẫn, điều hành và vâng phục đều được nhìn dưới góc độ của lòng yêu mến. Nhận xét này có thể dẫn đến kết luận rằng sự bất tuân là lỗi phạm tình yêu đối với cộng đoàn trước hết, rồi sau đó đối với chính mình, và cuối cùng là đối với người chị em đứng đầu cộng đoàn. Trước khi kết thúc chương nói về vâng phục và quyền bính, nhà viết luật còn chú ý đến sự hiểm nguy của quyền lực, của mọi quyền lực và đặc biệt là quyền trong đời tu : “Kẻ càng ở địa vị cao giữa chị em, thì càng gặp nhiều hiểm nguy”. Cơn cám dỗ của quyền lực là ước muốn thống trị, xem như một thứ logic vậy : thích thú ra lệnh (De civitate Dei, XIV, 15, 2), vì thế cần một thứ khổ chế nào đó. Hiểu như vậy, Tu luật đã nhắc nhở: “đừng nghĩ mình có phúc vì được quyền thống trị” (số 46a). Khi cộng đoàn ý thức rằng bề trên luôn ở trong thế hiểm nguy, thì hãy nâng đỡ bề trên nhiều hơn bằng sự vâng phục, nhưng là một sự vâng phục có trách nhiệm. Thật vậy, có hai thái độ lệch lạc dẫn đưa quyền hành đến cơn cám dỗ thống trị : đó là công khai chống đối, hoặc vâng lời nịnh bợ. Cả hai thái độ này sẽ làm phá vỡ quyền bính. Cần phải ngăn chặn hai thái độ đó : đây cũng là một hành vi bác ái.

 

CHƯƠNG 8. THỰC HÀNH TU LUẬT

Trong các chương trước, thánh Augustinô đã thiết định những nguyên tắc áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. Bây giờ người dừng lại khía cạnh tinh thần để tuân giữ những nguyên tắc đó. Chương cuối cùng của Tu luật không phải là một kết luận mà là một lời nguyện cầu.

1. TINH THẦN GIỮ TU LUẬT

Số 48 : “Xin Thiên Chúa ban cho chị em biết tuân giữ những quy tắc trên đây vì yêu mến, như những người mê say vẻ đẹp thiêng liêng và toả ngát hương thơm Đức Kitô qua cuộc sống tốt lành, không như những nô lệ dưới ách lề luật nhưng như những con người tự do trong ân sủng”.

Tu luật thay đổi giọng điệu văn phong, chuyển sang lời cầu khẩn Thiên Chúa : “Xin Thiên Chúa ban cho chị em…”. Sau khi thiết định các điều luật và quy tắc, Augustinô cầu xin Chúa ban cho chị em ân sủng để tuân giữ. Trong một quyển chú giải Tu luật, Hugues de St Victor viết : “Đọc và giảng dạy là canh tác cánh đồng; còn cầu nguyện là vun trồng hạt giống”[33]. Thánh Augustinô hoàn toàn xác tín rằng sự trung thành với đời dâng hiến theo chiều hướng của Tu luật là một ơn ban từ trên cao. Người nhấn mạnh rằng : “Chúng ta hãy chiến đấu bằng lời cầu nguyện hơn là bằng sức mạnh của riêng mình” (Contra secundam Juliani responsionem imperfectum opus, 6, 15). Tuy vậy cả hai đều cần thiết : “Thiên Chúa không truyền cho ta làm những cái không thể làm được. Nhưng khi truyền lệnh, ngài nhắc nhở chúng ta hãy làm những gì chúng ta có thể làm và hãy xin những điều chúng ta không thể làm” (De natura et gratia, 43, 50). Và vì thế người cầu nguyện rất cảm kích và sâu lắng : “Lạy Chúa xin hãy truyền dạy cho con những điều con không thể làm được, hay nói đúng hơn, xin hãy truyền cho con những điều con không thể làm được mà không có ơn Chúa, bởi vì con quỳ gối xuống trước mặt Ngài, ngõ hầu kẻ nào vênh vang thì chỉ dám vênh vang trong Chúa mà thôi” (In Ps 118, 3). Nhưng phải tuân giữ Tu luật như thế nào ? Việc tuân giữ bề ngoài không quan trọng cho bằng tinh thần tuân giữ, được diễn tả qua bốn thái độ của con tim : yêu mến, tìm kiếm vẻ đẹp, chiếu toả sự chứng tá và tự do. Bốn thái độ này rất căn bản, thâu tóm tất cả các chiều kích của đời sống tâm linh đan tu.

a) Yêu mến (hay chiều kích tình cảm)

Thánh Augustinô xin Thiên Chúa ban cho tu sĩ biết giữ Luật vì lòng yêu mến. Như chúng ta đã biết, thánh Augustinô như một triết gia đã khám phá ra từ thâm tâm con người không chỉ có chân lý, mà còn có cả chân lý và hệ quả của nó là tình yêu. Tình yêu là nguồn mạch của mọi hoạt động, là mối tương quan với Thiên Chúa không thể phân ly, là sự giằng co sâu thẳm, là sự liên lỷ kiếm tìm cái vĩnh cửu không bao giờ thoả mãn. Tình yêu có hai đặc tính : – Tình yêu là sức mạnh sâu kín của tâm hồn khiến cho việc giữ các mệnh lệnh của Tu luật trở nên khả thi và vui tươi, làm cho gánh nặng trở nên nhẹ nhàng. Thánh Augustinô nói : “Những công việc của những người yêu nhau thì không nặng nề, trái lại nó là lý do, là động cơ của niềm vui… Khi người ta làm vì tình yêu họ sẽ không cảm thấy vất vả và thích nếm cảm những lao nhọc đó” (De bono viduitatis, 21, 26). – Đặc tính thứ hai của tình yêu là nó luôn luôn làm mới lại những thói quen, tập quán mỗi ngày. Đặc biệt là các đan sĩ hàng ngày phải lặp đi lặp lại những công việc cố định, tuân giữ những kỷ luật cố định, lập lại những khoản luật và công thức đôi khi nhàm chán. Như vậy đối với nhà tu đức học Augustinô, kẻ thù của tình yêu là sự buồn tẻ, nhàm chán. Không chỉ có thế, tình yêu còn làm cho tất cả mọi sự trở nên vĩnh hằng. Tu luật đã nhiều lần nhấn mạnh đến tâm tình yêu mến trong tất cả mọi việc dù nhỏ nhất, bởi vì chỉ có tình yêu mới tồn tại mãi mãi (số 31d). Công đồng Vatican II triển khai ý kiến của thánh Phaolô và thánh Augustinô khi nói : “Chỉ có đức ái và hoa trái của đức ái là tồn tại” (GS số 39)trong khi tất cả những cái khác ở ngoài tình yêu đều bị huỷ diệt.

b) Say mê vẻ đẹp thiêng liêng (hay chiều kích chiêm niệm)

Người được thánh hiến là người yêu vẻ đẹp của Chúa. Đây chính là cùng đích cuối cùng của cuộc đời. Lý tưởng sống “một lòng một ý” (số 3) mới chỉ là đích điểm trung gian chứ chưa phải là mục đích cuối cùng của đời tu. Thật vậy, cần phải khắc ghi trong tâm trí rằng tột đỉnh của ơn gọi tu sĩ, ơn gọi Kitô hữu và con người nói chung là chiêm ngắm vẻ đẹp thần linh. Cùng đích của đời tận hiến không phải là tình huynh đệ, càng không phải là thi hành sứ vụ sao cho có hiệu quả nhất, mà là chiêm ngắm vẻ đẹp thần linh. Tình huynh đệ và sứ vụ cũng đều quy về cùng đích tối hậu ấy. Nhưng chiêm ngắm vẻ đẹp nghĩa là gì ? Theo thánh Augustinô, chính Thiên Chúa “Cha của thẫm mỹ”. Người là “thẩm mỹ của tất cả cái đẹp và sự thiện hảo” (Soliloquia, 1, 1, 3). “Người là cái đẹp của tất cả cái đẹp” (Conf. 3, 6, 10). Câu nói nổi tiếng của thánh nhân hối hận vì đã muộn màng biết Chúa thật là cảm động : “Con yêu Ngài quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất cổ và rất mới, con yêu Ngài quá muộn màng !” (Conf. 10, 27, 38). Vẻ đẹp của Thiên Chúa được cụ thể hoá trong con người của Đức Kitô, “Người siêu vượt trên tất cả vẻ đẹp” (Tv 45, 3; x. De sancta virginitate, 54, 55). Và hoa trái của cái đẹp là gì ? Đó chính là lòng mến. Hết mọi người đều yêu mến cái đẹp. Khi yêu cái đẹp chúng ta sẽ được trở nên xinh đẹp, bởi vì theo thánh Augustinô “chúng ta sẽ là cái chúng ta yêu” (In 1Jo, 2, 14), chính vì thế mà “tình yêu là nét đẹp của tâm hồn” (In 1Jo, 9, 9). Chắc chắn Augustinô đã chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhà hiền triết Pythagore và Platon khi nói về đích điểm của cuộc hành trình của linh hồn là chiêm ngắm vẻ đẹp thần linh, của trật tự và hài hoà. Đó cũng là điều mà Kinh thánh gọi là “vinh danh Chúa”. Cuộc đời của mỗi người tu sĩ là luôn kiếm tìm nhan Chúa, ao ước được kết hiệp huyền nhiệm và thần bí với nguồn mạch tuyệt đối là chính Ngài, say mê vương triều của Ngài và say mê chính Chúa tể của vương triều ấy. Và đây cũng là cùng đích cánh chung của cuộc đời theo nhãn quan Thánh Kinh, mà ngay bây giờ ta có thể hưởng nếm trước như thánh Phêrô, Gioan và Giacôbê đã sống giây phút trên núi Tabor (Mc 9, 2-8); như cuộc xuất thần của thánh Phaolô được nhấc lên tầng trời thứ ba (2Cr 12, 2-4); như cuộc chiêm ngắm của chính thánh Augustinô và bà thân mẫu tại cửa biển Ostia (Conf. 9, 10, 23-24). Người đã nếm cảm được sự ngọt ngào và tốt đẹp dường bao của Chúa và sức mạnh của thế giới tương lai. Tác giả mô tả trong cuốn Tự thuật như sau : “Đôi lần Ngài dắt con đi vào cuộc sống nội tâm rất sâu xa, tới một nơi thật là ngọt ngào mà tri thức con không biết diễn tả ra sao, đó không phải là cuộc sống trần thế này nữa” (Conf. 10, 40, 65). Hoặc một chỗ khác, người viết : “Dõi theo một nỗi ngọt ngào vô tả, một niềm khoái cảm bí nhiệm, như một tiếng nhạc vọng ra từ cung điện của Chúa … linh hồn được thoát khỏi mọi tiếng động của xác thể và huyết nhục, đạt thấu tới thánh cung nhà Chúa … ở đó lễ hội kéo dài vĩnh viễn và yến tiệc không bao giờ tàn” (In Ps 41, 9)”.

c) Toả ngát hương thơm Đức Kitô (hay chiều kích tông đồ)

Đây là sự chiếu toả đời sống tu trì, tựa như một bông hoa dù ẩn kín vẫn toả ra hương thơm ngát. Kiểu nói “toả ngát hương thơm” cảm hứng từ lời thánh Phaolô : “Chúng tôi là hương thơm của Đức Kitô dâng kính Thiên Chúa, toả ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất” (2Cr 2, 15). Tuy nhiên cần phải xác tín rằng chứng từ không chỉ có tính cách cá nhân mà còn mang chiều kích cộng đoàn nữa. Nếu một người thánh hiến làm chứng cho Tin Mừng trong một cộng đoàn trưởng giả, sang trọng, quyền quý thì thực là nghịch lý ! Đời sống chứng tá tông đồ không bao giờ là sự phô trương khoe khoang theo kiểu người Biệt phái, nhưng là sự toả ngát hương thơm của Đức Kitô. Đời sống của họ không phải là sự truyền bá hay quảng cáo, nhưng là lời mời gọi sâu kín đầy sức hấp dẫn bí nhiệm. Chứng tá bằng cuộc sống âm thầm là dạng thức phục vụ đầu tiên của Tin mừng mà các tu sĩ có thể trao ban cho thế giới. Làm chứng không có nghĩa là làm cái gì nhưng là sống thế nào, không phải là giảng dạy Tin mừng nhưng là sống Tin mừng, cho dù trong một số hoàn cảnh đặc biệt, công tác rao giảng Tin mừng chiếm vị trí hàng đầu. Chính vì thế mà đời tu mang đặc tính bí tích hơn là hiệu năng : trở nên dấu chỉ hơn là xông xáo năng động. Họ cố gắng thể hiện lời Chúa : “Cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ Thầy: đó là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 35); “để họ được hoàn toàn nên một, như vậy thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con” (Ga 17, 23). Có lẽ không có Tu luật nào nhấn mạnh nhiều đến tình hiệp thông ngự trị giữa cộng đoàn như Tu luật thánh Augustinô. Điều đáng chú ý là khoản luật mà chúng ta đang phân tích là đoạn duy nhất trong toàn bộ Tu luật có chứa từ “Đức Kitô”. Thật là một điều rất ngạc nhiên ! Toàn bộ cuộc đời và thần học của Augustinô đều mang tính quy Kitô. Ví dụ trong cuốn Tự Thuật, Augustinô cho biết lúc còn thanh niên, tâm hồn mình đã say mê sự Khôn ngoan nhờ cuốn sách Hortensius của Cicero, tuy nhiên : “chỉ có một điều làm suy giảm lòng hăng say ấy, đó là tác phẩm đó thiếu danh thánh Đức Kitô” (Conf. 3, 4, 8). Một yếu tố quyết định sự chuyển hướng trong cuộc đời Augustinô là sự khám phá Đức Kitô như là Đấng Trung gian. Đức Kitô không những vạch cho nhân loại thấy đích điểm phải đạt tới, nhưng còn chỉ cho con người biết con đường để đạt tới đích điểm đó, và hơn nữa chính Ngài là con đường (Conf. 7, 18-21; 24-27). Như thế phải giải thích thế nào sự “vắng mặt” của Đức Kitô trong toàn bộ Tu luật ? Xin thưa rằng Tu luật thiếu từ vựng “Đức Kitô” chứ không phải thiếu nội dung, thiếu văn tự chữ nghĩa chứ không thiếu tinh thần. Thât vậy, dù chỉ được viết duy nhất một lần, nhưng Đức Kitô vẫn hiện diện như ánh thái dương với những tia nắng mạnh mẽ, trong suốt soi chiếu toàn thể vũ trụ của những giá trị Tu luật. Ai đã biết rõ con người và thần học của thánh Augustinô thì không thể phủ nhận sự thật này. Vâng, Đức Kitô trong Tu luật thật là sống động, vô hình giống như không khí chúng ta hít thở hàng ngày. Nếu như thánh Athanasiô, bậc thầy của các đan sĩ, đã nói những lời trăn trối như sau : “Anh em hãy hít thở Đức Kitô” (Athanasius, Vita di Antonio, 91), và nếu như thánh Phaolô đã thú nhận là “Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20; Pl 1, 21) thì lời đó cũng có thể được gán cho Tu luật của thánh Augustinô. Thay vì nói về “Đức Kitô”, Tu luật ao ước cho chị em toả hương thơm của Người như đoá hoa dạ lý mùa xuân.

d) Tự do của người Kitô hữu (hay chiều kích đoàn sủng)

“Không như những nô lệ dưới ách lề luật nhưng như những con người tự do trong ân sủng”. Với những lời này, Tu luật lấy lại đề tài rất được thánh Phaolô yêu chuộng và sau này được thánh Augustinô nhấn mạnh, cũng như trong mọi thời đại và đối với mọi người, quyền quý hay nô lệ thấp hèn, đều khao khát : đó là Tự do. Đề tài này rất hấp dẫn đặc biệt là những người trẻ, cho dù đôi khi họ hiểu sai ý nghĩa. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, người ta rất nhạy cảm về Tự do nhưng cũng rất dễ dàng bị lẫn lộn và đánh lừa ! Trong tác phẩm De Spiritu et littera (30, 52), thánh Augustinô đã triển khai đạo lý của thánh Phaolô nói về ân sủng, trong đó người đối chiếu giữa việc tuân giữ luật theo cung cách của người nô lệ với việc tuân thủ luật bằng thái độ của người tự do. Thái độ thứ nhất nảy sinh từ mối sợ hãi và cảm thấy luật là một bó buộc, cấm đoán và trừng phạt. Trái lại, thái độ thứ hai nảy sinh từ tình yêu là nguồn mạch phát sinh tự do và niềm vui (Ep 217, 8).Đó cũng là tinh thần của khoản luật này.

2. CÁCH ĐỌC TU LUẬT

Số 49 : (a) Ước gì tập sách nhỏ này nên như gương cho chị em soi, và để khỏi vì quên mà lơ là điều nào thì mỗi tuần phải đọc cho chị em nghe một lần. (b) Khi thấy mình trung thành thực hiện những điều đã được viết ở đây, chị em hãy tạ ơn Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành. (c) Ngược lại, nếu ai trong chị em thấy mình thiếu sót điều nào thì hãy hối tiếc về quá khứ và đề phòng về tương lai, cầu xin Cha tha nợ và đừng để chúng ta sa chước cám dỗ”.

(a) Tương tự như Sách thánh (x. Ga 1,23-25), Tu luật là gương soi cho những người thánh hiến. Qua tấm gương này, họ sẽ đối chiếu bản thân và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa Kitô (Kh 21, 2). Tu luật còn đề nghị các tu sĩ soi mình trong gương cách đều đặn; có nghĩa là khuyên họ trở nên thân quen với Tu luật và để cho nó có thể huấn luyện, uốn nắn mọi khía cạnh của cuộc đời tu trì. Có một chi tiết đáng chú ý là thánh Augustinô ra lệnh cho cộng đoàn đọc Tu luật mỗi tuần một lần. Điều này xác nhận rằng “tập sách nhỏ” (libellus) – cuốn sổ ghi chép những lời huấn dụ của thánh nhân- đã trở thành một bản văn pháp lý trong khi Người vắng mặt. (b) Nếu thấy mình đã trung thành thực hiện mọi mệnh lệnh của Tu luật thì đừng kiêu ngạo nghịch lại với đức khiêm nhường, nhưng nhận biết đó là do ân sủng Chúa ban. Chính vì thế tác giả Tu luật ra lệnh chị em phải tạ ơn Chúa. Thật là dễ hiểu bởi vì thánh Augustinô vị tiến sĩ của ân sủng đã dồn hết sức lực chiến đấu chống lại giáo thuyết của phái Pelagius (chủ trương rằng tự sức con người có thể cứu được mình mà không cần phải có ơn Chúa). Người xác tín sâu xa rằng chỉ có Thiên Chúa mới thật là tuyệt hảo, còn chúng ta chỉ là những tội nhân. Người dùng lối so sánh như sau : Nếu chúng ta không nhìn thấy mặt trời tròn đầy thì không phải do lỗi của mặt trời mà do con mắt của chúng ta bị bệnh (x. De peccatorum meritis et remissione, 2, 5, 5). Nhưng cần thêm rằng hiệu quả của ân sủng trong chúng ta thì không như một cái gì bên ngoài khoác lên người chúng ta, nhưng trở nên một với chúng ta, đến nỗi có thể nói được là ân sủng của Thiên Chúa ở trong chúng ta thì thuộc về bản tính của chúng ta còn hơn là tự do và tội lỗi nữa. Qua kiểu nói bình dân “nhờ ơn Chúa”, thánh Augustinô nhận thấy một chân lý trong nhiệm cục Kitô giáo : “không còn chi ngắn gọn hơn, vui tươi hơn, ý nghĩa và hữu ích hơn những lời công bố này ! (Ep. 41, 1) (c) Đối với những lỗi lầm của chị em, Tu luật chỉ ra ba thái độ tương ứng với ba chiều kích của thời gian : đối với quá khứ, hãy ăn năn; đối với tương lai hãy cảnh giác; đối với hiện tại hãy xin ơn tha thứ và chiến thắng cám dỗ. Thật đáng nhắc lại rằng đối với thánh Augustinô, không có cái gì mà không thể sửa chữa được, thậm chí tội lỗi có thể trở nên ích lợi cho chúng ta, bởi vì nó giúp ta “khiêm nhường và thêm kinh nghiệm” (De correptione et gratia, 9, 24). Tóm lại, bản Tu luật không để lại dấu vết của sự tự mãn, mà chỉ có tâm tình khiêm nhu bình thản; không hô hào tăng cường nghị lực ý chí, mà chỉ khuyến khích tín thác vào tình yêu của Cha và sự tha thứ và ân sủng của Ngài.
Tu luật khép lại giống như một đoá hoa bừng nở, mời gọi chị em hãy quỳ xuống cầu nguyện.

……………………..

[15] Hiến chế mục vụ về Hi thánh trong thế gii ngày nay, số 39
[16] Clodovis Boff trích dẫn A. Trapé, in Biliotheca Sanctorum, I, Roma 1961, p. 567
[17] Xem đoạn trích từ C. Boff, La Regola, p. 156
[18] Người ta đã gặp thấy quy định về “bạn đồng hành” (socius) từ các bản luật cổ : ngoài những lý do thực tiễn (chị ngã em nâng), quy tắc này còn phản ánh truyền thống các môn đệ Chúa Giêsu được sai đi từng hai người một (Lc 10,1). Trong hiến pháp dòng Đaminh, các anh em đi giảng hoặc các bề trên đi hội cũng buộc phải có “đồng hành”. Cho đến gần đây, nhiều dòng nữ cũng áp dụng luật “đồng hành” kể cả khi đi ra nhà khách.
[19] Dựa theo một số bản dịch tiếng Anh (may take from the kitchen) và 2 ấn bản Ý (ritirare personalmente dalla dispensa).
[20] Theo bản Latinh (ut ipse de cellario petat) và Pháp (demander lui-même à la dépense).
[21] Đây là tội chính của dân Do thái trong cuộc Xuất hành : tội lẩm bẩm kêu ca bị coi như phản ảnh thái độ vô ân thiếu tin tưởng (Xh 15, 24; 17,3; Tv 78 và 106).
[22] Xem các Bản luật trong phần phụ lục. Chỉ riêng bản dịch tiếng Pháp không có câu này.
[23] Xem Marie-Ancilla, Session sur la Règle de saint Augustin, pp. 149-151
[24] Xem Tarsicius J. van Bavel, osa, The Rule of Saint Augustine. Masculine and Feminine Versions with Introduction and Commentary, Trans. Raymond Canning osa, Darton, Longman & Todd, London, 1984, pp. 101-103
[25] Xem Marie-Ancilla, Session sur la Regle de saint Augustin, pp. 147-148
[26]Xem Tarsicius J. van Bavel, osa, The Rule, op.cit., p. 104; Clodovis Boff, La Regola di S. Agostino, p. 178
[27] Xem Tarsicius J. van Bavel, osa, The Rule, op.cit., p. 107
[28] Xem Clodovis Boff, La Regola di S. Agostino, p. 180
[29] Có bản dịch tiếng Việt hiện nay còn thêm câu mở đầu : “Ch em phi tôn kính b trên”; nhưng câu này không có trong nguyên bản Latinh và bản dịch Pháp, Anh, Ý. Câu này không phù hợp với mạch văn ở đây, có lẽ nó xuất hiện trong các dị bản.
[30] Tu lut thánh Augustinô. Bản thảo của Dòng Đaminh Việt Nam, 2004
[31] Clodovis Boff, La Regola, 183
[32] Xem L. Moulin, La vita quotidiana secondo san Benedetto, Jaca Book, Milano 1980, cap. VII, trích bởi Clodovis Boff, La Regola, p. 184-185

[33] Trích từ Clodovis Boff, La Regola, p. 187

1 2 3

Comments are closed.