Cuộc đính hôn huyền nhiệm
Sau khi rước lễ, chị được cảm nếm cuộc đính hôn huyền nhiệm trong một thị kiến đặc biệt. Chị viết : “Chúa đã cầm lấy tay phải và xỏ nhẫn vào ngón tay tôi. Giữa lòng bàn tay, Ngài đặt một hạt kim cương lấp lánh như những tia nắng mặt trời. Đó là tình yêu đối với Bí Tích Thánh Thể. Bên trái hạt kim cương, Người đặt một hạt kim cương khác giống như hạt bên phải, đó là tình yêu đối với Thánh Giá. Bên phải hạt kim cương, Người đặt một viên khác đó là tình yêu đối với Thánh Ý Chúa. Rồi Ngài nói : “Hỡi vị hôn thê nhỏ bé của Cha, Cha ký thác chiếc nhẫn này cho con. Con phải gìn giữ nó cẩn thận. Đây là bảo chứng cuộc đính hôn huyền nhiệm.” Tôi không thể diễn tả được niềm vui sướng của mình. Tôi rất yêu quý ba hạt kim cương này vì đó là dấu hiệu, là bằng chứng cuộc đính hôn của tôi với Chúa.
Hiệu quả của thị kiến này đã đạt tới đích điểm của nó. Trong khi Chúa yêu cầu chị giữ chiếc nhẫn này thì chị lại nghĩ : “Tôi sẽ đưa nó cho Mẹ Bề Trên Laeta giữ dùm.” Điều này cho thấy rằng chị Antonia còn quá đơn sơ, chưa biết gì về thần học huyền nhiệm.
Sau cuộc kết hiệp mầu nhiệm đó, chị lo lắng vì không thấy chiếc nhẫn đâu cả. Chị tìm kiếm khắp nơi cũng không thấy : chẳng thấy ở ngón tay, ở dưới đất hay ở ghế quỳ. Chị đành phải trở về với nhiệm vụ dạy học của mình. Vài giờ sau, chị đi cầu nguyện và hỏi Chúa về chiếc nhẫn. Chị khóc lóc thảm thiết vì nghĩ rằng mình đã làm mất cái nhẫn Chúa đã ký thác cho chị. Sau khi được biết đó không phải là chiếc nhẫn vật chất, và hôm đó là ngày đại lễ đối với chị, chị buột miệng kêu lên : “Ngày đại lễ”. Có phải đây là “Ngày đại lễ” của tôi không ?” Trọn ngày hôm đó và cả ngày thứ hai Phục Sinh nữa, Chúa đã ban cho chị đặc ân được cảm nếm sự hiện diện sống động của Người.
Thời gian hồng phúc như thế quả rất hoạ hiếm đối với chị. Ngài cho chị cảm nếm những giây phút đó để giúp chị chuẩn bị đón nhận những đau khổ của Ngài trong cơn hấp hối. Những đau khổ mà chị Antonia đã chịu là để đền thay cho những cuộc bắt bớ dấy lên chống lại Hội Thánh. Đôi khi chị chịu đau khổ để đền thay những xúc phạm đến Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể. Những hy sinh đó được dâng lên để cầu cho các trẻ em, cho các quân nhân được ơn cứu độ, cầu cho sự thánh thiện của hàng giáo sĩ và tu sĩ.
Sức mạnh hoả ngục dấy lên dữ dội để chống lại chị. Chúng dùng mọi áp lực bắt chị phải kêu lên : “Tôi không muốn chịu đau khổ nữa !” Nhưng chị luôn nhắc lại lời đoan hứa hôm nào : “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa.” Đó là lời cầu xin đầy sức mạnh đã lôi kéo biết bao linh hồn trở lại khi họ đang đứng bên bờ vực thẳm. Đó là tiếng reo mừng chiến thắng của chị khi chống lại những tấn công của Satan.
Sứ mạng đã hoàn tất
Cuối năm 1938, chị Antonia bị suy nhược trầm trọng. Chúa cho chị biết rằng sứ mạng của chị đã hoàn tất. Những thử thách trong nội tâm đã chấm dứt. Chị đã kiên nhẫn và hân hoan chịu những đau đớn dữ dằn của cơn bệnh. Một năm trước đó, chị tự nguyện tuyên bố từ bỏ “Ngày đại lễ” những an ủi thiêng liêng vào giờ chết của chị, đó là sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Thiên Thần Bản Mệnh, các thánh bảo trợ. Chị đã từ bỏ tất cả và dâng hy sinh này cho một ý chỉ đặc biệt.
Ngày 22 tháng tư năm 1939, là ngày lễ vọng cầu cho “Ơn gọi linh mục”, khắp nơi trong tổng giáo phận Porto Alegre, các tín hữu cố gắng thi nhau đóng góp vào sứ mạng cao cả và thánh thiện này bằng cách dâng những lời nguyện, những hy sinh và của dâng cúng. Hôm nay được xem là giờ phút cuối cùng của chị Antonia. Ở trường, các sơ khác phải che giấu nỗi buồn khi họ chuẩn bị cho đại lễ cầu cho “Ơn gọi linh mục”. Ai lại không cảm thấy buồn khi chị Antonia đang trong cơn hấp hối dù bầu khí bề ngoài mang vẻ tưng bừng của ngày đại lễ sắp tới.
Việc chuẩn bị đang ráo riết và nhộn nhịp. Cha mẹ học sinh đang lần lượt tới tham dự. Một sơ chợt nhớ ra chị trước đây nổi tiếng là có tinh thần vâng lời đặc biệt, nên đã nhắn lời tới chị rằng : “Chị Antonia, chị không thể cất cánh về trời sớm được ! Làm sao chúng tôi có thể hoàn tất việc chuẩn bị cho đại lễ một cách tốt đẹp trong khi chị đang hấp hối ?” Chị Maria Antonia hiểu tường tận lời đề nghị này. Chị nhã nhặn đáp : “Tôi sẽ chờ đến thứ hai.” Lúc đó cơn hấp hối ngưng lại. Sự đau đớn mà chị xin chịu trong ngày hôm sau được dâng theo ý chỉ đặc biệt cầu cho giáo phận. Sau đó, linh hồn chị khởi hành đi vào cõi sống đời đời.
Chị qua đời vào đêm 24 tháng tư năm 1939, tuy bề ngoài chị có vẻ bình thản nhưng bên trong rất đau đớn. Như vị Hôn Phu Chí Thánh, chị cũng uống chén đắng tới giọt cuối cùng.
Thân nhân chị khóc thương chị vì chị ra đi quá sớm. Các học sinh khóc thương vì mất người thầy. Các nữ tu trong tu viện buồn sầu vì sự ra đi viễn vĩnh của một phần tử rất yêu quý của cộng đoàn. Các học sinh vội vã viết lời từ biết rất trìu mến, gói cả những lời cầu nguyện để xin chị chuyển cầu chọ họ trước toà Chúa. Những lời này được đặt trong quan tài của chị.
Ngày 25 tháng tư năm 1939, nơi phần mộ được đào sẵn trong tu viện của các nữ tu Dòng Phanxicô ở Sao Leopoldo, những khuôn mặt buồn sầu và trang nghiêm của những học sinh và các nữ tu đang vây quanh cái quan tài đang được hạ dần xuống đáy huyệt. Tất cả các học sinh đều thương khóc và bỏ những cành hoa trên quan tài để tỏ lòng tiếc thương và biết ơn đối với người thầy kính yêu của mình.
Cha tuyên uý của trường Thánh Giuse, Leonardo Miller, S.J. đọc Lời Chúa trước quan tài vị nữ tu thánh thiện trước khi những nắm đất thi nhau rơi xuống : “Hạt giống quý báu được vùi lấp vào lòng đất để chờ ngày phục sinh vinh quang.”
Sau khi lấp xong, vị linh mục giơ tay lên làm dấu Thánh Giá trên phần mộ mới, biểu hiện sự chiến thắng của Đấng Cứu Độ trên thần chết.
Vì tình yêu cao cả đối với Chúa Giêsu, Cecy đã chiến thắng tội lỗi. Vì tình yêu đối với Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chị đã tự nguyện đi vào con đường thi hành Thánh Ý Thiên Chúa bằng chính lễ dâng đời chị để đền thay tội lỗi nhân loại.