Đức Giêsu còn muốn vâng phục hơn thế nữa

0

Dường như chúng ta không muốn cố gắng hơn, khi ngỡ rằng thái độ im lặng của Đức Giêsu là muốn nói lên sự tán đồng của Ngài về lối suy nghĩ của những người cho rằng: người nói không làm rồi lại đi làm thì vâng phục hơn là người nói rồi lại không làm (x Mt 21, 28-31). Nói không là ngôn ngữ quen thuộc trên đầu môi chót lưỡi của con người, khi được mời gọi để thực thi những gì trái với tự do và sở thích. Nhưng, nếu chẳng đừng mà phải vâng, thì đó cũng chỉ là công việc được thực thi một cách miễn cưỡng và bó buộc mà thôi. Nhưng dù sao, như vậy vẫn còn hơn, vì cuối cùng thì công việc cũng chạy. Lại còn có một thái độ vâng phục khác rất đáng sợ. Đó là khi chúng ta tỏ ra rất ngoan nguỳ nói lời tuân phục, nhưng kết cục thì không làm gì cả. Đây là thái độ vâng lời có mưu lược, không thật lòng, bôi bác và đóng kịch. Đức Giêsu thì khác, hẳn là Ngài không đắc ý với bên nào cả. Ngài muốn nơi chúng ta phải có một sự vâng phục hơn thế nữa, và đỉnh cao của sự vâng phục là vâng cho đến hiến mạng. Vì thế,  “dẫu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” ( Dt 5, 8).  Và Ngài đã vâng phục cách tự nguyện, định hướng và triệt để. Chính nhờ sự vâng phục hiện sinh này mà Ngài mời gọi chúng ta nhập cuộc bằng đời tận hiến.

1. Đức Giêsu vâng lời cách tự nguyện, định hướng và triệt để

Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết, chính lúc thi hành ý muốn của Cha là lúc Ngài thực hiện điều mà Cha thích nhất và Ngài đã tự nguyện tuân phục với lòng yêu mến: “Hi lễ cùng lễ vật Cha chẳng ưa, hi lễ cùng tạ tội, Cha không thích. Điều Cha ưa thích là thi hành ý muốn của Cha.” (Dt 10, 5-10)

Quả thực suốt cuộc đời của Đức Giêsu, Ngài đã luôn sống theo ý Chúa Cha. Ngài đã đến và lấy cách sống của Ngài để thưa cùng Cha: “Này Con đây xin đến để thi hành ý muốn của Cha” (Dt 10,4). Khi lên 12 tuổi, Đức Giêsu đã mạnh dạn sống xa cha mẹ thân yêu, Ngài đã ở lại đền thờ để làm việc của Cha. Sự tuân phục của Đức Giêsu đã gây khó hiểu không ít cho thân phụ mẫu Ngài là Giuse va Maria. Nhưng, Ngài vẫn bình thản trước Thiên ý với câu giải thích: “Cha Mẹ không biết là Con có bổn phận ở nhà của Cha Con sao?”(Lc 2, 49).

Sau những năm sống yên hàn với Cha mẹ, Đức Giêsu đã tuân hành ý muốn của Cha, tìm đến sông Gio-đan để xin Gioan thanh tẩy cho, mặc dầu Ngài chẳng có tội gì. Dòng sông Gio-đan hẳn cũng phải run sợ ngỡ ngàng trước sự chìm đắm của Ngài trong đoàn người tội lỗi. Sự tự huỷ tận căn này luôn còn là chấm hỏi của muôn người. Câu trả lời nằm ở chỗ chỉ vì Ngài đã sống vâng phục cách tự nguyện, định hướng và triệt để. Và chính nhờ sự vâng phục thánh thiện này mà Đức Giêsu đã đổi thay lịch sử  nhân loại trong nhiệm cục cứu độ: “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời ThiênChúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.” (Rm 5, 19)

Mặc dầu là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu vẫn luôn tuân hành ý Cha, là sống thân phận yếu đuối của con người. Ngài cũng đã chịu ma quỉ cám dỗ trong hoang địa. Cơn cám dỗ của thế kỷ đã đẩy Đức Giêsu đứng trước một bẫy giăng thật tinh xảo và mưu lược. Tuy nhiên, Ngài đã bẻ gãy từng lý lẽ, từng màn cảnh được đạo diễn rất hấp dẫn của satan. Ngài đã tỏ ra rất có bản lãnh để đối phó, vì Ngài đã yêu mến Cha, tín thác vào Cha mạnh đến độ Ngài dám liều thân chiến đấu bằng ân sủng của Thánh Thần.

Để tuân hành ý Cha, Ngài cũng phải nhận định, phải chiến đấu cam go trong sức yếu đuối của con người và sự mập mờ trước Thiên ý. Trước khi công khai rao giảng, Đức Giêsu đã để ra 40 ngày đêm ăn chay cầu nguyện, nhận định, lựa chọn đường lối hoạt động cho đúng ý Cha. Rồi lúc bắt đầu rao giảng, Đức Giêsu cũng đã nhận định ý Cha tỏ lộ qua biến cố Gioan Tẩy Giả bị nộp, nên sau đó Ngài đã chọn Galilê làm địa bàn hoạt động, và vội vã tuyển chọn các môn đệ cho chương trình sắp tới. Thực ra, từ chặng đường này tới chặng đường khác của hành trình cuộc sống, Đức Giêsu đã phải đối phó trước nhiều mãnh lực, cám dỗ Ngài đi lệch con đường Thiên Sai, nhưng Ngài đã quyết tâm định hướng lại tất cả và sẵn sàng xin vâng một cách triệt để.

Sự vâng phục của Đức Giêsu là một lối vâng phục có ý thức và có trách nhiệm. Cao điểm của sự vâng phục đã vươn đến tột đỉnh về cuối đời của Ngài. Để lựa chọn ý Cha, Đức Giêsu đã phải trải qua một cuộc chiến cam go: Tin Mừng Nhất Lãm cho thấy Ngài rất buồn phiền (Mt 26, 36-46; Mc 14, 32-42; Lc 22, 40-46). Thánh Phaolô cũng cùng một quan điểm: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” (Dt 5, 7-8). Sự buồn phiền của Ngài và tiến trình của việc cầu nguyện của Ngài cho thấy việc lựa chọn ý Cha dường như liên lỉ và thiết thực trong cuộc sống của Ngài: “Con xin lấy ý Cha làm lương thực nuôi con” (Ga 4, 34). Quả thực Ngài đã phải học trong kiên nhẫn, trong lo toan, trong khổ sầu, trong nước mắt những bài học khó nuốt của đức vâng phục.

Một khi đã lựa chọn ý Cha, Chúa Giêsu bình tĩnh và cương quyết tuân hành cách triệt để: “Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: các ngươi đi tìm ai?...”. (Ga 18, 4 tt) Ngài nhận diện “kẻ nộp Ngài”, Ngài xót xa nhìn ngắm thửa vườn quen thân ngày nào, vẫn là nơi hạnh ngộ ý vị của Thầy trò, thế mà bây giờ bỗng nhiên nên khác: một nên thân, một nên thù… vì đâu dẫn đến cám cảnh này, nếu không phải vì lòng dạ đổi thay của con người?

Một khi đã lựa chọn ý Cha, Đức Giêsu đã hân hoan tự nguyện đối đầu với những thách đố của cuộc sống: Ngài như một con chiên hoàn toàn trong trắng không tì vết, Ngài yên lặng để người ta cáo gian, chụp mũ và lên án đóng đinh như một tên đại gian, đại ác. Chỉ có Ngài  mới là Vua đích thực, thế mà Ngài nhẫn nhục để người ta hành hạ, chế giễu như một tên vua mạo danh, bịp bợm. Ngài có trong tay mọi quyền năng trên trời dưới đất, thế mà Ngài để cho người ta cười nhạo như một Kitô giả bất lực và bị lệ thuộc.

Chén đắng ngày nào không nuốt nổi, nay đã được Đức Giêsu dốc cạn cho tới giọt cuối cùng. Cái đau nhói trong con tim bằng thịt trước những làn roi tàn nhẫn, phụ bạc khiêu khích sự tự ái của một thanh niên đang trong tuổi sức vóc. Nỗi bồn chồn hốt hoảng sau những khoảnh khắc cầu nguyện trở về, thấy các môn đệ mỏi mệt và thiếp ngủ. Hết thảy, đã đến với Đức Giêsu một cách dồn dập và thách thức. Thế nhưng, ngay cả khi mạng sống bị đe doạ, vì vâng phục, mà Đức Giêsu đã không sử dụng quyền thiên sai của mình để tự vệ. Sau cùng, trước các lực lượng thù địch nổi lên xông đánh, Đức Giêsu đã thành khẩn cầu nguyện để sáng suốt nhận định ý Cha, và can đảm chấp nhận cái chết và cách chết như Cha muốn. Cái chết của Ngài chính là mầm sống của nhân loại qua muôn thế hệ.

2. Vâng phục – lời mời gọi nhập cuộc

Càng chiêm ngắm cách sống hoàn toàn tuân hành ý Cha của Đức Giêsu, chúng ta càng thấy lối sống hiện tại của ta quá xa với cách sống của Ngài. Chúng ta thường không quan tâm, không nỗ lực tìm kiếm điều Cha muốn, hay không thi hành điều Cha dạy. Cha thích nhất là thi hành ý muốn của Cha, thế nhưng chúng ta lại không dâng cho Cha điều ấy mà lại thường dâng cho Cha những lễ vật khác (như các việc đạo đức bề ngoài) để bắt Cha làm theo ý chúng ta giống như  người ngoại dâng cúng lễ vật, giống như kiểu người đời biếu xén quà cáp thay cho lời xin. Chúng ta còn nghi ngờ: nếu làm theo ý Cha thì chắc gì được hạnh phúc, hoặc, nếu làm theo ý Cha, thì chúng ta phải hy sinh nhiều quá.

Kinh nghiệm của Adam và Evà (Kn 2, 4b-3, 24) cho thấy: vì hai ông bà đã không để cho Thiên Chúa tác tạo nên đã không lãnh nhận được hồng ân làm con cái Thiên Chúa. Họ không có hạnh phúc trong cuộc sống và phải sống rất khổ cực. Bởi lẽ, sau khi bất tuân, họ đã trở thành thù địch của Thiên Chúa, kẻ thù của nhau, họ đã phải đối phó với thiên nhiên và họ đã chuốc lấy đau khổ. (St chững 3). Evà đã lấy sự chết làm quân sư cho mình thì sẽ bị sự chết khắc phục thôi. Tiếng nói trong nội tâm của Eva có thể là: Nhưng tại sao lại phải sống theo ý Chúa? Không tự quyết định mà để người khác quyết định há không phải là thái độ của trẻ con vừa ấu trĩ vừa con nít. Nếu như cái gì cũng để cho Thiên Chúa quyết định, không phải là thái độ của kẻ bị lệ thuộc sao?

Điều mà Evà không muốn để Chúa tác tạo là đi tìm sự khôn ngoan ngoài Thiên Chúa. Sự khôn ngoan này khiến cho Evà không chấp nhận được sự hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc sống. Evà có biết đâu khi Thiên Chúa đặt để Adong và Evà vào vườn Eden là để giáo dục họ làm chủ, canh tác và để cho họ trở thành con người hơn. Khi Thiên Chúa dạy dỗ họ về “cây được ăn và cây không được ăn” là muốn họ sống theo sự khôn ngoan và tình yêu quan phòng của Ngài. Thế nhưng, Eva đã định tâm hái trái cấm, và chính lúc đó là lúc Evà muốn tự mình xác định điều tốt, điều xấu, bằng chính khả năng mà Chúa ban cho mình, nghĩa là Evà muốn tác tạo lấy mình ngoài ý Chúa.

Quả thật, đường lối của Thiên Chúa thì khác, Ngài muốn chúng ta vâng lời hơn thế nữa.

Tuy nhiên, việc sống theo ý Chúa không thể chỉ dựa vào sự giữ luật cách hình thức bề ngoài. Hay một tính toán để sống vâng phục một vừa hai phải thôi. Trình thuật của Mt 19, 16-26 cho thấy: người thanh niên giầu có là người rất đạo đức và nỗ lực tự nguyện sống trọn lành nhưng lại chưa phải là người không sống theo ý Chúa; trong khi anh trộm không giữ luật và cũng chẳng nỗ lực nên trọn lành như anh thanh niên lại được vào Nước Trời. Vậy, điều chính yếu để được vào Nước Trời nằm ở chỗ nào? Giữ luật và muốn nên trọn lành thì chưa đủ vì giữ Luật mà con người không được giải phóng, không được tự do để làm theo ý Chúa thì việc giữ luật chỉ là không không vậy. Giữ các giới răn từ nhỏ mà không làm cho người ta yêu thững người được, thì việc giữ Luật đó dù sao cũng còn tích cách quy kỷ. Cái cản trở người thanh niên đi theo Chúa há không phải là của cải sao? Của cải là quà tặng của Thiên Chúa, nhưng quà tặng ấy hấp dẫn qúa, đến độ đã mê hoặc anh thanh niên một cách dễ dàng, khiến anh quên luôn cả Chúa. Anh đã buông thõng cuộc đời dưới sự điều khiển của nó. Như vậy bài học dạy chúng ta nên dại, nên khôn trong hành trình cuộc sống là gì nếu không phải là bài học vâng phục cách tự nguyện, định hướng và triệt để?

Kinh Thánh còn kể chuyện con gái bà Herodria vì vâng lời Mẹ mà dám làm những điều khủng khiếp ngược với luân thường đạo lý. Cũng vậy, con người thường dễ vị nể người nọ, người kia, nhất là những người thân yêu và những người làm ơn mà làm điều Thiên Chúa không muốn.

Ngoài ra những đòi hỏi dục tính như  địa vị, danh tiếng, lòng dục… cũng ngăn cản không cho vâng phục Thiên Chúa cách thong dong được. Được phép lựa chọn ý Thiên Chúa toàn năng là một quyền rất lớn, vì Thiên Chúa có toàn quyền mà lại cho con người quyền chống lại Thiên Chúa. Lựa chọn này hẳn là lựa chọn tình yêu. Bối cảnh xã hội hôm nay đang được diễn ra với những lối sống đáng được báo động, khi người ta coi thường sự sống, chiến tranh, giết người…hoặc người ta lao mình vào cuộc sống vô luân của xã hội do bởi không định hướng theo thánh ý Chúa.

Mặt khác, thế giới ngày nay hững hờ đối với niềm tin vào Thiên Chúa. Đây là mối lo rất lớn của Giáo hội. Điều này còn đáng lo hơn cả việc chống đạo nữa. Tại sao họ hững hờ? Có phải hững hờ là nguyên nhân khiến họ không sống theo ý Chúa được hay không? Có những ngừời thông thạo thần học và Kinh thánh mà hững hờ đối với Thiên Chúa, hững hờ đối với Đức Kitô trong cuộc sống. Có người được trao trách nhiệm rao giảng Lời chúa, chuyển tải lời Chúa và giới thiệu Chúa cho người khác mà lại sống hững hờ đối với Chúa. Thời gian của cuộc sống phải là một biểu đồ bén nhạy cho biết độ biến thiên của việc nỗ lực sống theo ý Chúa và việc hững hờ với Thánh ý Chúa, xem có rơi vào điểm cảnh báo khẩn thiết hay không? Hãy học bài bài học này, bài học của sự vâng phục vì đó là chìa khoá cho mỗi người có thể mở cửa Nước Trời, chìa khóa này chính Đức Giêsu đã sử dụng.

Để tạm kết bài này, xin mượn lời của Thánh Tiến sĩ Catarina Siena ca tụng về đức vâng phục:

Ôi, đức vâng lời kỳ diệu! Mi vượt biển không cực nhọc và tới bến cứu độ an toàn! Mi giống như Ngôi Lời Con Một Cha. Mi bước lên con thuyền của Thánh Giá, sẵn sàng tham dự cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, hơn là cḥu thiếu đức vâng phục của Ngôi Lời và xa rời giáo lý của Ngài. Mi lấy đó làm bàn ăn, trên đó lương thực của mi là các linh hồn, và say sưa yêu thững tha nhân. Mi được xức dầu thơm của đức khiêm nhường chân thành và mi không thèm khát những gì ngoài điều Cha muốn. Mi ngay thẳng, không quanh co, vì mi có trái tim đơn sơ và bác ái, không chút giả dối. Mi là bình minh loan báo ánh sáng của ân sủng thần linh. Mi là mặt trời sưởi ấm những ai có mi ở trong tâm hồn, vì sự nồng nhiệt của đức ái không bao giờ rời mi. Mỗi ngày mi làm cho trái đất trở thêm phong nhiêu, bởi vì mi làm cho thân xác và linh hồn sinh hoa trái, mang lại sự sống cho mi và đồng loại.

Mi làm vui lòng mọi người, nét mặt mi không hề biến sắc vì giông tố, nhưng luôn rạng ngời nhờ ánh sáng dịu hiền của đức nhẫn nại. Sự nín thinh, nhẫn nhục là dấu chỉ mi có sức mạnh, sự kiên nhẫn làm mi thành người lớn và uy quyền: mi thật là vĩ đại. Trong sự vĩ đại này mi đi từ đất lên trời, vì cửa Nước Trời chỉ mở ra cho mi và chỉ cho mi thôi. Mi là viên ngọc quý ẩn kín, không ai nhận ra, bị người ta giày đạp dưới chân, vì chính mi đã tự đặt mình dưới chân mọi người và tự làm cho mình thật nhỏ bé (x Mt 13, 44-46; 7, 6). Tuy nhỏ bé, nhưng quyền năng của mi thật lớn lao, không ai có quyền sai khiến mi: vì mi đã được giải phóng khỏi cảnh tôi mọi của tính dục, là cái làm con người mất phẩm giá. Khi giết được kẻ thù này bằng sự ghét bỏ và khinh chê ý riêng mình, mi đã giành lại được quyền tự do.” (Catarina Siena, Đối thoại, Lm Bùi Đức Sinh chuyển ngữ, Calgary – Canada, 2003, tr. 415-416)

Sr. Agnès Hoàng Thị Hoà

 

Comments are closed.